Cuộc Xung Đột Các Nền Văn Minh (Bài 4)
Mô Thức Các Nền Văn Minh

(The Civilizational Paradigm)

 22bhvhcc41

Nhìn thế giới dưới khía cạnh  bảy hoặc tám nền văn minh tránh được nhiều khó khăn thuộc loại này. Nó không hy sinh thực tế cho sự đơn giản hóa như trong mô thức một và hai thế giới; tuy nhiên, nó cũng không hy sinh tính đơn giản cho thực tế như trong các mô thức quốc gia  và hỗn loạn (1). Nó cung cấp một khuôn khổ làm việc dễ nắm được  và minh bạch để hiểu được thế giới, phân biệt điều gì là quan trọng với điều gì không quan trọng trong số các cuộc xung đột đang tăng gấp bội, dự đoán các diễn biến trong tương lai và cung cấp hướng dẫn cho các nhà hoạch định chính sách. Nó cũng được xây dựng trên  và kết hợp các yếu tố của các mô thức khác. Nó tương thích với các mô thức kia  hơn là giữa các mô thức này với nhau. Ví dụ, một cách tiếp cận trên nền tản văn minh cho rằng:

* Các lực hướng đến sự kết hợp (forces of integration) trên thế giới là có thật và chính chúng đang tạo ra những lực chống lại  khẳng định văn hóa và ý thức về  nền văn minh của mình (counter-forces of cultural assertion and civilizational consciousness).

* Thế giới theo một nghĩa nào đó là có  hai phần, nhưng sự phân biệt cốt lõi  là giữa phương Tây với tư cách là nền văn minh thống trị cho đến nay và tất cả những nền văn minh khác, tuy nhiên, có rất ít điểm chung giữa các nền văn minh khác này. Nói tóm lại, thế giới được phân chia giữa một bên là phương Tây và một bên không phải phương Tây.

* Các quốc gia-dân tộc (nation states)(2) đang và sẽ vẫn là những chủ thể quan trọng nhất trong các vấn đề thế giới, nhưng quyền lợi, các liên kết  và các xung đột của họ ngày càng được định hình bởi các yếu tố văn hóa và văn minh.

* Thế giới thực sự là không có một lãnh đạo chung (anarchical)(3), đầy rẫy những xung đột bộ lạc và dân tộc (nationality), nhưng những xung đột gây nguy hiểm lớn nhất cho sự ổn định là những xung đột giữa các quốc gia (states) hoặc nhóm từ các nền văn minh khác nhau.

Do đó, một mô hình căn cứ trên các nền văn minh đặt ra một bản đồ tương đối đơn giản nhưng không quá đơn giản để giúp hiểu được những gì đang diễn ra trên thế giới khi thế kỷ XX kết thúc. Tuy nhiên, không có mô thức nào là tốt mãi mãi. Mô hình Chiến tranh Lạnh về chính trị thế giới hữu ích và phù hợp trong bốn mươi năm nhưng đã trở nên lỗi thời vào cuối thập niên 1980, và đến một lúc nào đó mô thức các nền văn minh cũng sẽ chịu số phận tương tự. Tuy nhiên, đối với thời kỳ đương đại, nó cung cấp một hướng dẫn hữu ích để phân biệt điều gì quan trọng hơn và điều gì ít quan trọng hơn. Chẳng hạn, ít hơn một nửa trong số bốn mươi tám cuộc xung đột sắc tộc trên thế giới vào đầu năm 1993 là giữa các nhóm từ các nền văn minh khác nhau. Nhìn thế giới qua các nền văn minh (civilizational perspective) sẽ khiến Tổng thư ký Liên hợp quốc và Ngoại trưởng Hoa Kỳ tập trung nỗ lực bảo vệ hòa bình vào những cuộc xung đột có tiềm năng lớn hơn nhiều so với những cuộc xung đột khác để leo thang thành các cuộc chiến tranh rộng lớn hơn.

Các mô thức  cũng tạo ra các dự đoán và một thử nghiệm then chốt  về giá trị  và ích  lợi của một mô thức là mức độ mà các dự đoán bắt nguồn từ nó  tỏ ra chính xác hơn so với các dự đoán từ các mô thức thay thế. Ví dụ, một mô thức dựa trên quốc gia (statist paradigm) đưa  John Mearsheimer đến dự đoán rằng "tình hình giữa Ukraine và Nga đã chín muồi để bùng phát một cuộc cạnh tranh về an ninh giữa hai nước. Các cường quốc có chung đường biên giới dài và không được bảo vệ, như giữa Nga và Ukraine, thường rơi vào tình trạng cạnh tranh do lo ngại về an ninh. Nga và Ukraine có thể khắc phục các động lực này và học chung sống hòa thuận với nhau, nhưng sẽ là điều bất thường nếu họ làm như vậy. " Mặt khác, một cách tiếp cận qua các nền văn minh nhấn mạnh mối liên hệ văn hóa, cá nhân và lịch sử chặt chẽ giữa Nga và Ukraine và  người Nga và người Ukraine sống lẫn lộn với nhau  ở cả hai quốc gia, và thay vào đó, tập trung chú ý  vào đường đứt gãy văn minh (civilizational fault line) phân chia miền Đông Ukraine theo Chính Thống giáo với miền Tây Ukraine  theo KiTô giáo Hợp nhất (Uniate) (4); một thực tại  lịch sử cốt lõi đã có từ  lâu, phù hợp với khái niệm "hiện thực" về các quốc gia như là những  thực thể thống nhất và tự xác định (unified and self-identified identities), mà Mearsheimer hoàn toàn bỏ qua . Trong khi cách tiếp cận theo quốc gia nhấn mạnh khả năng xảy ra chiến tranh Nga-Ukraine, thì cách tiếp cận theo nền văn minh giảm thiểu điều đó và thay vào đó nhấn mạnh khả năng Ukraine bị chia cắt làm đôi, một sự chia cắt mà các yếu tố văn hóa sẽ khiến người ta dự đoán có thể bạo lực hơn so với sự chia cắt Tiệp Khắc (Czechoslovakia) (5) nhưng  ít đổ máu hơn nhiếu so với việc chia cắt  Nam Tư (Yugoslavia) (6). Những dự đoán khác nhau này, tiếp đến,  lại dẫn đến các ưu tiên chính sách khác nhau. Dự đoán dựa trên mô hình quốc gia của Mearsheimer về chiến tranh có thể xảy ra và việc Nga có thể xâm chiếm Ukraine khiến ông ủng hộ việc Ukraine sở hữu vũ khí hạt nhân. Một cách tiếp cận dựa trên văn minh sẽ khuyến khích sự hợp tác giữa Nga và Ukraine, thúc giục Ukraine từ bỏ vũ khí hạt nhân, thúc đẩy viện trợ kinh tế đáng kể và các biện pháp khác để giúp duy trì sự thống nhất và độc lập của Ukraine, đồng thời bảo  trợ  kế hoạch dự phòng trường hợp Ukraine tan rã có thể xảy ra.(7)

Nhiều diễn biến quan trọng sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc đã tương thích với mô thức văn minh và đáng lẽ ra đã có thể được dự đoán từ đó. Chúng bao gồm: sự tan rã của Liên Xô và Nam Tư (Yugoslavia); các cuộc chiến tranh đang diễn ra trên lãnh thổ cũ của các nước này; sự trỗi dậy của chủ nghĩa cơ yếu  tôn giáo (religious fundamentalism) trên khắp thế giới; các cuộc đấu tranh bên trong nước Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Mexico về căn cước (identity) của họ; cường độ của xung đột thương mại giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản; sự kháng cự của các quốc gia Hồi giáo trước sức ép của phương Tây đối với Iraq và Libya; nỗ lực của các quốc gia Hồi giáo và Nho giáo để thủ đắc vũ khí hạt nhân và các phương tiện để dùng chúng; Trung Quốc tiếp tục đóng vai trò  cường quốc đứng "bên ngoài"; việc củng cố các chế độ dân chủ mới ở một số quốc gia và không phải ở những quốc gia khác; và cuộc thi đua  võ trang  đang phát triển ở Đông Á.

Sự thích đáng của mô thức nền  văn minh đối với thế giới mới nổi (emergent world) được minh họa bằng các sự kiện phù hợp với mô thức đó xảy ra trong khoảng thời gian sáu tháng vào năm 1993.

* sự tiếp tục và gia tăng của các cuộc giao tranh giữa người Croatia, người Hồi giáo và người Serb ở Nam Tư cũ;

* phương Tây vắng mặt trong việc ủng hộ đáng kể cho người Hồi giáo Bosnia (8)

hoặc tố cáo những hành động tàn bạo của người Croat giống như cách mà những hành động tàn bạo của người Serb đã bị tố cáo;

* việc Nga không muốn tham gia cùng các thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc khác trong việc kêu gọi người Serbia ở Croatia làm hòa với chính phủ Croatia và đề nghị Iran và các quốc gia Hồi giáo khác cung cấp 18.000 quân để bảo vệ người Hồi giáo Bosnia;

* Sự gia tăng của cuộc chiến giữa người Armenia và Azeris, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran yêu cầu người Armenia từ bỏ các vùng họ chiếm được, việc triển khai quân đội Thổ Nhĩ Kỳ và quân đội Iran qua biên giới Azerbaijan, và cảnh báo của Nga rằng hành động của Iran góp phần làm "leo thang xung đột "và" đẩy nó đến những giới hạn nguy hiểm của sự quốc tế hóa ";

* Các cuộc giao tranh tiếp tục ở Trung Á giữa quân đội Nga và quân du kích mujahedeen (9);

* cuộc đối đầu tại Hội nghị Nhân quyền Vienna giữa phương Tây, do Ngoại trưởng Hoa Kỳ Warren Christopher dẫn đầu, tố cáo "chủ nghĩa tương đối văn hóa"(cultural relativism), và một  liên minh các quốc gia Hồi giáo và Nho giáo bác bỏ "chủ nghĩa phổ quát của phương Tây" (Western universalism);

* sự tái tập trung chú ý một cách song hành của các nhà hoạch định quân sự Nga và NATO về "mối đe dọa từ phía Nam";

* cuộc bỏ phiếu, dường như gần như hoàn toàn chia phe theo nền  văn minh (along civilizational lines), đã trao Thế vận hội 2000 cho Sydney chứ không phải Bắc Kinh;(10)

* việc bán các bộ phận tên lửa từ Trung Quốc cho Pakistan, dẫn đến việc Hoa Kỳ áp đặt các lệnh trừng phạt đối với Trung Quốc, và cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về vụ được cho là  vận chuyển công nghệ hạt nhân  cho Iran;

* việc Trung Quốc  phá bỏ lệnh ngừng (moratorium) và  thử một vũ khí hạt nhân, bất chấp sự phản đối gay gắt của Hoa Kỳ và việc Triều Tiên từ chối tham gia thêm vào các cuộc đàm phán về chương trình vũ khí hạt nhân của chính họ;

* tiết lộ rằng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đang tuân theo chính sách "ngăn chặn kép" (dual containment) nhằm vào cả Iran và Iraq;

* Thông báo của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ về một chiến lược mới nhằm chuẩn bị cho hai "cuộc xung đột khu vực lớn"(major regional conflicts) , một chống lại Triều Tiên, một chống lại Iran hoặc Iraq;

* Lời kêu gọi của tổng thống Iran về việc liên minh với Trung Quốc và Ấn Độ để "chúng ta có tiếng nói quyết định tối hậu về các sự kiện quốc tế" (“we can have the last word on international events”);

* Luật mới của Đức hạn chế đáng kể việc tiếp nhận người tị nạn;

* thỏa thuận giữa Tổng thống Nga Boris Yeltsin và Tổng thống Ukraine Leonid Kravchuk về việc bố trí hạm đội Biển Đen và các vấn đề khác;

* việc Hoa Kỳ ném bom Baghdad, sự ủng hộ hầu như nhất trí của các chính phủ phương Tây và sự lên án của hầu hết các chính phủ Hồi giáo là một ví dụ khác về "tiêu chuẩn kép" (double standard) của phương Tây;

* Hoa Kỳ liệt Sudan là một quốc gia khủng bố và  truy tố Sheik Omar Abdel Rahman của Ai Cập và những người theo ông ta về âm mưu "tiến hành cuộc chiến  khủng bố đô thị chống lại Hoa Kỳ";

* triển vọng được cải thiện đối với việc Ba Lan, Hungary, Cộng hòa Séc và Slovakia sẽ gia nhập khối NATO;(11)

* Cuộc bầu cử tổng thống Nga năm 1993 chứng tỏ rằng Nga thực sự là một quốc gia "bị xâu xé" (torn country) với dân chúng và giới tinh hoa không biết chắc họ nên tham gia hay thách thức phương Tây. (12)

Một danh sách tương tự của các sự kiện chứng minh sự thích đáng của mô thức nền văn minh có thể được tổng hợp cho hầu hết mọi khoảng thời gian sáu tháng khác vào đầu thập kỷ 1990’s.

Trong những năm đầu của Chiến tranh Lạnh, chính khách người Canada Lester Pearson  đã chỉ ra một cách tiên tri sự hồi sinh và sức sống của các xã hội phi phương Tây. Ông cảnh báo: "Sẽ là vô lý nếu tưởng tượng rằng những xã hội chính trị mới ra đời ở phương Đông này sẽ là bản sao chép của những xã hội mà chúng ta ở phương Tây đã quen thuộc. Sự hồi sinh của những nền văn minh cổ đại này sẽ mang những hình thức mới. " Chỉ ra rằng quan hệ quốc tế "trong vài thế kỷ" đã qua là quan hệ giữa các quốc gia châu Âu, ông cho rằng "những vấn đề sâu xa nhất không còn nảy sinh  giữa các quốc gia trong một nền văn minh duy nhất mà là giữa chính các nền văn minh." Tình trạng lưỡng cực kéo dài của Chiến tranh Lạnh đã làm trì hoãn những diễn biến mà Pearson thấy đang tới. Chiến tranh Lạnh kết thúc đã giải tỏa các lực văn hóa và văn minh mà ông đã xác định vào những năm 1950, và một loạt các học giả và nhà quan sát đã nhận ra và nêu bật vai trò mới của những nhân tố này trong nền chính trị toàn cầu. Fernand Braudel đã cảnh báo một cách nghiêm túc rằng: "...đối với bất kỳ ai quan tâm đến thế giới đương đại, và thậm chí còn hơn thế nữa  đối với bất kỳ ai muốn hoạt động trong đó, thì sẽ có lợi cho họ nếu họ biết nhận diện, trên một bản đồ thế giới, những nền văn minh đang tồn tại ngày nay, để có thể xác định biên giới của chúng, trung tâm và ngoại vi của chúng, các tỉnh của chúng và không khí mà người ta hít thở ở những nơi đó, các ‘hình trạng’ tổng quát và cá biệt (general and particular forms) tồn tại và liên kết bên trong các nơi đó. Nếu không, thật là thảm khốc những sai lầm về quan điểm có thể xảy ra sau đó! "(13)

Tác giả :Samuel P. Huntington (1996)(14)

Chú thích

1)Bốn  mô hình về thế giới sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt:

    1. “Một thế giới” hòa đồng, ví dụ theo thuyết “điểm tận cùng của lịch sử”(the end of history) cùa Fukuyama
    2. “Hai thế giới” (Đông và Tây, Nam Bắc)
    3. Mô thức quốc gia: thế giới gồm “184 quốc gia” với chủ quyền riêng của chúng
    4. Mô thức “hỗn loạn tuyệt đối” (Sheer chaos)

Bài này bàn về “mô thức văn minh” (civilizational paradigm)

2) Bàn về từ “nation state” và 'quốc gia dân tộc”:

State: thường được dịch là “quốc gia”; trong trường hợp “United States of America” state được dịch trước 1975 là “tiểu bang”, mặc dù nền kinh tế  tiểu  bang California chỉ nhỏ hơn 5-6 quốc gia hay Texas có nền kinh tế tương đương với kinh tế nước Nga (1600 tỷ đô la).

Một số nơi dùng nation-state để phân biệt các quốc gia và các tiểu bang của các nước liên bang.

Theo định nghĩa  của “nation state” của từ điển Merriam-Webster:

Definition of nation-state

: a form of political organization under which a relatively homogeneous people inhabits a sovereign state

especially : a state containing one as opposed to several nationalities

Quốc gia-dân tộc:

: một hình thức tổ chức chính trị theo đó một dân tộc tương đối thuần nhất sinh sống tại một quốc gia có chủ quyền

đặc biệt là: một quốc gia bao gồm một dân tộc, trái với trường hợp có nhiều dân tộc

Cũng theo Merriam-Webster: nghĩa đầu tiên của “nation” là đồng nghĩa với “nationality”; một trong những nghĩa của “nationality” là:

“Nationality: a people having a common origin, tradition, and language and capable of forming or actually constituting a nation-state

The diverse nationalities of the Austro-Hungarian Empire desired independence.

b: an ethnic group constituting one element of a larger unit (such as a nation)

The country is home to five nationalities.

Tạm dịch là:

Nationality: một dân tộc có nguồn gốc, truyền thống và ngôn ngữ chung và có khả năng hình thành hoặc thực sự cấu thành một quốc gia-dân tộc

Ví dụ: Các dân tộc đa dạng của Đế quốc Áo-Hung mong muốn độc lập.

b: một nhóm dân tộc cấu thành một phần tử của một đơn vị lớn hơn (chẳng hạn như một quốc gia)

Ví dụ: Nước này là nơi cư trú của 5 dân tộc.

 

Google translate dịch “nation state”  là “nhà nước quốc gia”, nhưng  tiếng Trung Hoa là  民族国家/Mínzú guójiā hay theo Hán Việt: “dân tộc quốc gia” .(accessed 30/4/2022)

3) Trong đoạn này, người dịch (HVH) không dịch “anarchy” là  mối quan hệ “vô chính phủ” giữa các quốc gia vì sợ tối nghĩa (mỗi quốc gia đều có chính phủ riêng), chỉ vắng mặt một chính phủ trung ương siêu quốc gia, không có tôn ty trật tự (hierarchy) giữa các quốc gia . Xin tạm  dịch ‘anarchy”: “[mối quan hệ giữa các quốc gia là] một mối quan hệ không có lãnh đạo”.

4) Uniate: các cộng đồng Ki tô giáo  Đông Âu và cận đông công nhận uy quyền của Đức Giáo Hoàng, nhưng vẫn giữ nguyên phụng vụ hay nghi lễ  của họ.

5)Năm 1989 Tiệp Khắc trở thành nước dân chủ sau Cách mạng Nhung (Velvet Revolution) cùng khoảng thời gian với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Romania, Bulgaria, Hungary và Ba Lan. Trong vòng ba năm chủ nghĩa cộng sản bị gạt bỏ khỏi Châu Âu.

Năm 1992, vì những căng thẳng leo thang của chủ nghĩa dân tộc (nationalism), Tiệp Khắc giải tán trong hòa bình theo các quá trình trong nghị viện, trở thành Cộng hòa Séc và Slovakia, được chính thức lập ra ngày 1 tháng 1 năm 1993. (Theo Wikipedia)

6)Chiến tranh Nam Tư là một loạt các cuộc chiến tranh và nổi dậy dựa trên sắc tộc đã kéo dài từ năm 1991 đến năm 2001 bên trong lãnh thổ Nam Tư cũ. Những cuộc chiến tranh này đi cùng và/hoặc tạo điều kiện cho sự đổ vỡ của nhà nước Nam Tư, khi các nước cộng hòa cấu thành tuyên bố độc lập, nhưng các vấn đề của các dân tộc thiểu số ở các nước mới (chủ yếu là người Serb, Croat,và người Albania) vẫn chưa được giải quyết vào thời điểm nước cộng hòa được công nhận trên bình diện quốc tế. Các cuộc chiến thường được coi là một loạt các xung đột quân sự riêng biệt nhưng liên quan đã xảy ra, và  ảnh hưởng hầu hết các nước cộng hòa cũ của Nam Tư .

Thường được mô tả như là trận chiến đẫm máu nhất châu Âu kể từ Thế chiến thứ hai, xung đột đã trở nên nổi tiếng với các tội ác chiến tranh, bao gồm thanh trừng sắc tộc, tội ác chống lại nhân loại và hãm hiếp. Đây là những cuộc xung đột đầu tiên của châu Âu kể từ Thế chiến II được chính thức đánh giá là có tính chất diệt chủng và nhiều thành viên chủ chốt quan trọng sau đó bị buộc tội vì tội ác chiến tranh. Toà án Hình sự Quốc tế cho Nam Tư cũ (ICTY) được LHQ thiết lập để truy tố những tội ác này.

Theo Trung tâm Quốc tế về Công lý Chuyển tiếp, cuộc chiến Nam Tư dẫn đến 140.000  người thiệt mạng. (Wikipedia).

7) Ở điểm này, tiên đoán của Huntington căn cứ trên mô thức văn minh không ăn khớp với những gì đang xảy ra là chiến tranh giữa Nga và Ukraine. Dự đoán dựa trên mô hình quốc gia của John Mearsheimer về chiến tranh có thể xảy ra và việc Nga có thể xâm chiếm Ukraine có vẻ đúng hơn. Theo Mearsheimer thì đáng lẽ ra Ukraine nên giữ lại các võ khí nguyên tử thời Xô Viết thay vì từ bỏ chúng như Ukraine đã làm.

Tuy nhiên , khả năng  nước Ukraine chung cuộc có thể bị chia đôi theo đường gãy văn minh (fault line) giữa Đông và Tây vẫn có thể xảy ra như Huntington tiên đoán.

8) Người Serb theo Kitô giáo Chính thống, người Croat theo Công giáo ( Catholic) và người Bosnia theo Hồi giáo tuy cả 3 nhóm đều gốc Slav giống nhau. Người Bosnia gốc là người Serb nhưng cãi đạo theo Hồi giáo lúc vùng Balkans (Đông Nam Châu Âu) nằm dưới quyền cai trị của Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman empire).

9)Mujahideen hoặc mujahidin (tiếng Ả Rập: مجاهدين‎, mujāhidīn là hình thức số nhiều của Mujahid tiếng Ả Rập: مجاهد‎, 'người tham gia thánh chiến'), một thuật ngữ tiếng Ả Rập nói chung về những người du kích Hồi giáo tham gia vào jihad (cuộc thánh chiến), cuộc chiến nhân danh Hồi giáo / Allah hoặc cộng đồng Hồi giáo (ummah). Thuật ngữ tiếng Anh jihadist tương ứng với nó về mặt ngữ pháp (Wikipedia)

10) Beijing tổ chức Thế Vận Hội mùa hè năm 2008 và Thế Vận Hội mùa đông năm 2022 trong hai hoàn cảnh kinh tế chính trị hoàn toàn khác nhau.Có thể xem thêm:

https://www.bbc.com/news/world-asia-china-60078516

11)Sách này của Huntington viết năm 1996. Hiện nay các nước này đều đã là thành viên của Thỏa Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)

12) Theo Huntington, “torn country” chỉ một quốc gia muốn gia nhập (affiliate) vào một nền văn minh khác nền văn minh mà mình hiện đang thuôc về.

Cuộc bầu cử nghị viện (Parliamentary elections) được tổ chức tại Nga vào ngày 12 tháng 12 năm 1993. Đây là cuộc bầu cử nghị viện đầu tiên ở nước Nga thời hậu Xô Viết và là cuộc bầu cử cuối cùng vào Hội đồng Liên bang (Federation Council, Thượng viện của quốc hội)  với các thành viên tương lai được bổ nhiệm bởi các cơ quan lập pháp và thống đốc cấp tỉnh.

Cuộc tổng tuyển cử năm 1993 diễn ra sau cuộc khủng hoảng hiến pháp Nga năm 1993, một cuộc đối đầu bạo lực trên đường phố Moscow dẫn đến việc giải tán quốc hội Nga trước đó bằng lực lượng quân sự. Yeltsin hy vọng có thể giải quyết tình trạng hỗn loạn chính trị bằng cách ra sắc lệnh cho cuộc bầu cử vào quốc hội Nga mới và cuộc trưng cầu dân ý về hiến pháp diễn ra vào ngày 12 tháng 12 năm 1993.(Wikipedia)

13) Fernand Braudel (1902 - 1985), nhà sử học người Pháp,  lãnh đạo của Trường phái Annales. Braudel giúp Trường phái Annales trở thành nơi quan trọng nhất của nghiên cứu về viết lịch sử (historiography) ở Pháp và phần lớn thế giới sau năm 1950.

Braudel, một trong những nhà sử học quan trọng nhất thời cận đại, nhấn mạnh vai trò của các yếu tố kinh tế xã hội quy mô lớn trong việc tạo ra và viết lịch sử. Ông cũng là một trong những người tiên phong về  lý thuyết hệ thống thế giới (world-systems theory, world systems analysis). Braudel  tập trung vào phân tích các hệ thống thế giới (world systems) có tính cách lâu dài (“de longue durée”) trong việc viết sử và phân tích lịch sử thay vì tập trung vào các cá nhân, nhân vật  hoặc sự kiện, biến cố như trước đó. Ông đem những ngành kinh tế, địa lý, nhân chủng học, xã hội học và khảo cổ học vào sử học.

https://fr.wikipedia.org/wiki/Fernand_Braudel

14)Trên  30 năm sau khi  Huntington viết sách này, có học giả chorằng thuyết của ông có tính cách tiên tri đối với vấn đề thời sự hiện nay:

William S. Smith (Research Fellow and Managing Director of the Center for the Study of Statesmanship at The Catholic University of America) viết:

“Huntington lập luận rằng hầu hết các khối văn minh nổi lên trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh sẽ có các nhà lãnh đạo tự nhiên, cái mà ông gọi là “các quốc gia cốt lõi” (core states). Nền văn minh Sinic (Nho giáo, ảnh hưởng của Trung Hoa) sẽ được dẫn dắt bởi Trung Quốc, nền văn minh Chính thống giáo của Nga và nền văn minh phương Tây do Hoa Kỳ dẫn đầu. Vì thế giới Hồi giáo không có nhà lãnh đạo tự nhiên, một cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo sẽ diễn ra giữa hai giáo phái Sunni và Shia và giữa các quốc gia hàng đầu của Trung Đông như Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Ả Rập Saudi và Iran.

Những “quốc gia cốt lõi” này là chìa khóa để quản lý những thách thức sẽ xuất hiện ở các “quốc gia chẻ” (cleft nations, có hai nền văn hóa khác nhau) như Ukraine. Thay vì tài trợ cho một cuộc chiến ủy nhiệm (war by proxy) ở Ukraine và gây ra một cuộc chiến lớn hơn, các nhà lãnh đạo của các quốc gia cốt lõi cần phải lùi lại và thừa nhận rằng cả Nga và phương Tây đều có những đòi hỏi  chính đáng (legitimate claims) ở Ukraine và rằng giải pháp ngoại giao là con đường duy nhất ở phía trước. Cho dù giải pháp đó là phân chia Ukraine, một liên bang (federation) nơi nguyện vọng của cả hai miền của đất nước (đông và tây) được tôn trọng, hay một số thỏa hiệp khác - chỉ những nỗ lực ngoại giao chân thành của Nga và Hoa Kỳ mới có thể giải quyết được vấn đề này.”

https://nationalinterest.org/feature/ukraine-and-clash-civilizations-153636

 

Hồ văn Hiền dịch và chú thích
Ngày 30 tháng 4 năm 2022