"Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá tràng-kình ở Biển Đông, quét sạch bờ-cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm-đuối chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu, cong lưng làm tỳ-thiếp cho người ta"  ** Triệu Thị Trinh **

HomeVăn-HọcGiới-Thiệu, Tương-Thuật, Phân-Tích, Phê-BìnhGiới -Thiệu: Sách "Việt-Nam Tân Sử" Của Christopher Goscha

Giới -Thiệu: Sách "Việt-Nam Tân Sử" Của Christopher Goscha

 

Giới Thiệu Sách "Việt Nam Tân Sử"

của Christopher Goscha

 

Vietnam, A New History (Việt Nam Tân Sử), trên 500 trang, Basic 18Chvhvn1Books (2016) của Christopher K. Goscha, giáo sư ở Đại Học Québec tại Montreal, Canada.

Tác giả (sinh 1965) từng học và nghiên cứu ở Mỹ, Úc, Pháp về lịch sử thời thuộc địa và hậu thuộc địa của vùng Đông Nam Á; từng trải nhiều năm tìm tòi ở Thái Lan, Lào, Việt Nam và học về tiếng Việt ở Đại Học Hà Nội. Luận án tiến sĩ của ông ở Pháp, « Le contexte asiatique de la guerre franco-vietnamienne : Réseaux, relations et économie (1945-1954) », được giáo sư người Việt Nguyễn Thế Anh (sinh 1936) hướng dẫn ở Đại Học Sorbonne (Paris). Tác giả từng tìm cách nghiên cứu vấn đề Việt Nam trong bối cảnh rộng hơn của Á Châu và Đông Nam Á thay vì chỉ giới hạn trong những động cơ dân tộc chủ nghĩa Việt nam hay phong trào chống thực dân Pháp. Trước đó, từ luận án thạc sĩ, vào năm 1999, Goscha từng xuất bản cuốn “Thailand and the Southeast Asian Networks of The Vietnamese Revolution, 1885-1954”, nói về mối liên hệ giữa cộng đồng hàng ngàn người Việt và Hoa ở Thái Lan , với một "đạo quân vô hình gồm những người buôn bán, người tội phạm, mại dâm và thuỷ thủ" và những phong trào cách mạng ở Việt Nam từ phong trào Cần Vương đến mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954. Cuốn Vietnam, A New History cũng tiếp tục đường lối tiếp cận đa diện, giới hạn tầm nhìn quốc gia chủ nghĩa và xét đến chiều kích địa sử ký và địa chính trị (geopolitics) của chuyện kể Việt Nam với tầm quan trọng của vị trí của nước này giữa vùng Đông Nam Á, cũng như biên giới tiếp giáp với Trung Hoa, Lào và Cambodia. Ông cũng là tác giả một cuốn tự điển về chiến tranh Pháp Việt (1945-54); đáng chú ý là ông tự viết lấy toàn bộ cuốn sách khá đồ sộ này, xét về nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc xung đột, ông không phải chỉ là chủ biên với sự cộng tác của nhiều người khác như trong trường hợp các cuốn từ điển khác (Historical Dictionary of the Indochina War (1945–1954): An International and Interdisciplinary Approach (Hardcover) by Christopher E. Goscha (2012))

Nguyên thuỷ, do nhu cầu của càng ngày càng nhiều người biết đến và viếng Việt Nam, tác giả được nhà xuất bản Penguin (Anh) yêu cầu viết một cuốn sử về Việt Nam hiện đại ("modern Vietnam"), nhưng lúc hoàn thành cuốn sách bao gồm các khoảng thời gian trước thời hiện đại, và cuốn "The Penguin History of Modern Vietnam" gặt hái được nhiều ca ngợi và giải thưởng. Cuốn sách được xuất bản ở Mỹ với tên Vietnam, A New History và bìa khác.

Phần nói về lịch sử Việt Nam trước thời cận đại chỉ chiếm một phần nhỏ trong cuốn sách, trong chương đầu "Northern Configurations" gồm 32 trang . Nói về tiếng Việt trong thời kỳ Bắc thuộc (colonial period), Goscha viết "Hàng ngàn người Tàu đến vùng châu thổ định cư trong giai đoạn thuộc địa, đem theo với họ một tập hợp tư tưởng, công nghệ và từ ngữ mới. Hôn nhân cùng với dân địa phương xảy ra thường xuyên, cũng như những đứa con hai dòng máu và tình trạng song ngữ. Giống như tiếng Anh Trung đại (Middle English) phát sinh từ việc người Norman [con cháu người Vikings, định cư vùng Normandie, bắc nước Pháp] chiếm nước Anh vào thế kỷ thứ 12, một ngôn ngữ An Nam trung đại (Middle Annamese) khởi phát ở các thành phố Việt Nam thời thuộc địa, cho phép nhiều từ ngữ tiếng Hoa đi vào ngôn ngữ Việt vào thời đó." (trang 19). Lối giải thích này có điểm giống K. Taylor ở điểm cho rằng một loại "Middle Annamese" khởi phát từ các "thành phố (town)" của An Nam thời đó từ những người Tàu định cư lập gia đình với người Việt, con cháu họ lai Việt và cọng đồng này dùng hai thứ tiếng (song ngữ) một cách phổ biến.

Trong tiếng Anh thời trung đại (Middle English), bắt đầu với sự xâm chiếm của người Norman (năm 1066), và kéo dài đến thế kỷ thứ 15 để chuyển qua thời cận đại (Modern English), ngữ pháp tiếng Anh Cổ (old English) được giản dị hoá hay phế thải, một số lượng lớn các từ ngữ tiếng Pháp được du nhập trong các lãnh vực luật pháp, chính trị nghệ thuật, tôn giáo và tiếng Anh dùng trong triều vua. Thời ban đầu của giai đoạn này không sản xuất được bao nhiêu về văn chương vì vị thế tiếng Pháp cao hơn, có uy tín hơn nên người ta chuộng viết bằng tiếng Pháp hơn là tiếng Anh. Có lẽ Goscha muốn nói tiếng Việt "An Nam trung đại" cũng thành hình từ những người song ngữ du nhập tiếng Tàu vào tiếng địa phương, tuy tiếng Tàu vẫn giữ địa vị cao hơn trong giới "elite" học thức và biết đọc biết viết.

Nội dung nặng về chính trị, nhất là địa chính trị và đặt lịch sử Việt Nam vào bối cảnh của vùng Đông Nam Á và thế giới. Chúng ta ít được đọc về các chiến tích của người Việt và những anh hùng (như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão), hay những địa điểm (như Bạch Đằng, Diên Hồng, Vạn Kiếp) mà chúng ta tự hào và còn nhớ tên qua các con đường ngày xưa qua các đô thị ở miền nam. Những trận đánh của Trần Hưng Đạo chống quân Mông Cổ chẳng hạn ít được đề cập. Tác giả nhắc đến sự đe doạ đường bộ cũng như đường biển của quân Mông Cổ đối với Đại việt cũng như đối với vương quốc Chăm vào thế kỷ thứ 13 và nói người Chăm cùng với người Việt cùng nhau ngăn chặn quân Mông Cổ ở trên sông Hồng. "Do đó họ [người Việt] phải kết hợp với những người cạnh tranh với họ ở vùng duyên hải (người Chăm, theo nguyên văn :"they had then to join their coastal competitors") để đẩy lui những tấn công còn mạnh hơn nữa của người Mông Cổ"...Người Chăm và người Việt chặn được chúng ở trên sông Hồng trong lúc người Nhật và người Java thực hiện việc này về phía biển.”

Chiến thắng quân nhà Thanh Trung Hoa năm 1789 của vua Quang Trung cũng chỉ được nhắc qua bằng một câu: "Trong một chiến thắng lịch sử ngày nay còn được ăn mừng, Quang Trung trục xuất người Tàu và cai trị Đại Việt từ Hà Nội cho đến lúc ông mất năm 1792.(trang 43). Tuy nhiên, tác giả so sánh tác dụng biến đổi của Tây Sơn trên nước Việt Nam tương tự như tác động của Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Hoa thế kỷ thứ 19."..anh em Tây Sơn cưỡi trên một ngọn sóng bất bình ào ạt của dân chúng, tạo nên những liên minh thực tiễn với các nhóm không phải gốc Việt, biết dùng các mạng lưới tôn giáo, và khai thác các nhóm cướp bóc, tội phạm ở ngoại biên xã hội và thành công lớn lao...cơn cuồng nộ xã hội mà họ phóng thích cũng như sự tơi tả của các đơn vị chủ quyền mà họ để lại đằng sau có tác dụng biến đổi ngang với những gì mà Thái Bình Thiên Quốc thực hiện được ở Trung Hoa. Bằng cách diễu hành từ một đầu này qua đầu kia của Việt nam, Tây Sơn mở đường cho một quốc gia thống nhất rộng hơn, do miền nam chủ đạo, được Gia Long đảm đương lúc cuối cùng ông chiến thắng Tây Sơn năm 1802."(trang 44)

Tác giả không muốn trình bày sử Việt Nam qua một quá khứ bị trị, bị thực dân đô hộ, là một chuỗi chiến tranh ở một mảnh đất có vị trí chiến lược, địa chính trị, luôn luôn bị thèm muốn, trong đó Việt Nam thụ động như là một nạn nhân, theo như ‘narrative’ [chuyện kể] của các thế lực lớn (theo kiểu "một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc tây" -Trịnh Công Sơn). Ngược lại, tác giả muốn trình bày Việt Nam như là một "diễn viên" (actor) tích cực trong sự nhào nặn ra lịch sử của chính mình. Một khía cạnh khác, trong quá khứ đã hiện hữu không chỉ một nước Việt Nam, mà nhiều nước Việt Nam khác nhau, như Đàng Trong và Đàng Ngoài thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nước Việt Nam hình chữ S của thời Gia Long thống nhất sơn hà, Việt Nam đế quốc thời Minh Mạng...

Tác giả nhấn mạnh chính Việt Nam đã từng là một đế quốc (đối với Miên, Lào) và từng bành trướng từ thung lũng sông Hồng lan đến tận mũi Cà Mau. Tác giả phân biệt từ "Viet" để chỉ người kinh [đa số], tương tự như người Hán để chỉ người Tàu đa số, và từ "Vietnamese" để bao gồm tất cả sắc tộc, sắc dân đa số hay thiểu số [như Chăm, người gốc Hoa, gốc Khmer] sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.

Các biến chuyển văn hoá được bàn đến một cách rộng rãi. Chương 12 dành trên 30 trang sách cho "Thay đổi văn hóa trong thế kỷ 20 dài", ngoài những tên tuổi như Tự Lực Văn Đoàn, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Chu Trinh còn nhắc đến những nhân vật ít thấy trong sách sử như nhạc sĩ Phạm Duy; Trịnh Công Sơn; Nhã Ca, nữ tác giả của Giải Khăn Sô Cho Huế (1969); Nguyễn Cát Tường tác giả áo dài "Le Mur"; kèm theo trích đoạn của bài thơ tình già của Phan Khôi, đoạn đầu bài thơ "Xa cách" (Still too far away) của Xuân Diệu (1) và một đoạn thơ khác của Trần Dạ Từ (chồng của Nhã Ca, in sai là Tran Da Thu):"Some gifts to express my love"(2). Nói về văn nghệ sĩ, trong chương 11 bàn về quá trình thống nhất Việt Nam (Toward One Vietnam), một điểm thú vị khác là văn chương phản chiến ở miền bắc năm 1963 được nhắc đến qua Phù Thăng ("Phu Thang"- 1928-1996) với cuốn tiểu thuyết Phá vây ("Breaking the Siege"), nói về nỗi khổ trong chiến tranh chống Pháp, với tư tưởng tác giả Phù Thăng bị ảnh hưởng của phong trào sống chung hoà bình Khrushchev đề ra năm 1956. (3-4)

Cũng trong chương 11, hình ảnh Tổng thống Ngô Đình Diệm được trình bày khác với cuốn sách nổi tiếng thời đó Fire in the Lake (1972) của tác giả phản chiến Frances FitzGerald, sách được giải Pulitzer của Mỹ và mô tả TT Diệm như là một con rối của Mỹ, không khác gì vua Bảo Đại. Goscha viết:

"Vấn đề đối với người Mỹ thời đó, tuy nhiên, lại là Ngô Đình Diệm không phải là một con rối (puppet, bù nhìn). Nhà lãnh đạo dân tộc có đầu óc tự chủ mãnh liệt này nhiều lần cưỡng lại sự khuyên bảo của Mỹ. Ông ta và em ông ta, ông Ngô Đình Nhu, có ý kiến riêng của họ về xây dựng quốc gia, cải cách ruộng đất, và chống nổi dậy. Và cùng với nhau họ lắm khi làm những người Mỹ ủng hộ cho họ phải điên lên. Như một nhà ngoại giao từng ở Sài Gòn thời đầu thập niên 1960 sau này tóm tắt về các khó khăn lúc thương lượng với gia đình nhà Ngô: 'Thì cũng giống như phải đối phó với một tá [người muốn khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia họ như tướng Charles] de Gaulle [của Pháp sau thế chiến thứ 2]'.(5)

Chương cuối mang tựa đề: Chủ nghĩa độc tài, chủ nghĩa cộng hòa và thay đổi chính trị (Authorianism, Republicanism and political changes). Theo định nghĩa, cộng hòa (republic) là một quốc gia trong đó quyền lực cao nhất nằm trong tay của người dân và những đại diện được họ bầu ra, với một tổng thống hay chủ tịch được chỉ định hay bầu ra thay vì một ông vua như trong chế độ quân chủ. Có vẻ như tác giả dùng từ "chủ nghĩa cọng hòa" ["republicanism"] để chỉ những phong trào mà trong báo chí hải ngoại thường gọi là "dân chủ", "đa nguyên" (pluralism), bao gồm những nhân vật từ gần trăm năm trước như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thế Truyền, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thái Học cũng như những người đương thời như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, nữ văn sĩ Dương Thu Hương và nhóm nhân sĩ ký tên vào bản kiến nghị gởi cho Đảng Cọng Sản Việt Nam trước ngày họp đại hội năm 2016. Câu hỏi cuối sách là không biết những nhóm bảo vệ xã hội dân sự này sẽ vẫn chỉ là những tiếng nói rời rạc, hỗn độn hay họ sẽ hoà hợp với nhau để làm mới nước Việt Nam hay để tạo nên thêm một nước Việt Nam khác nữa ("to remake Vietnam or to make yet another Vietnam").

Nói chung, Vietnam, A New History là một trong những cuốn sách sử Việt đáng chú ý gần đây do một sử gia chuyên nghiệp viết bằng tiếng Anh. Chúng ta phần lớn từng học hay đọc sử nước nhà qua lăng kính của một người công dân gắn bó với quê hương và di sản tổ tiên để lại.

Tác giả Goscha là một nhà khoa bảng chuyên về sử học từng được một giáo sư sử học quốc tế nổi tiếng người Việt (từng là giáo sư của Miền Nam Việt Nam) hướng dẫn, và từng huấn luyện và khảo cứu ở nhiều nước liên hệ đến Việt Nam (Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Thái Lan). Được một chuyên gia tầm cỡ như thế trình bày câu chuyện đất nước, ông bà của của chính chúng ta qua lăng kính của một người ngoại cuộc giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn, và không kém phần thú vị về một đề tài tuy cũ nhưng vẫn còn nhiều điều mới mẻ.

Chú thích:

1) Xa cách

Có một bận em ngồi xa anh quá,
Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn.
Em xích gần thêm một chút: anh hờn.
Em ngoan ngoãn xích gần thêm chút nữa.
Anh sắp giận.

Em mỉm cười, vội vã
Đến kề anh, và mơn trớn: "em đây!".
Anh vui liền, nhưng bỗng lại buồn ngay.
Vì anh nghĩ: thế vẫn còn xa lắm...

Xuân Diệu

2) Trần Dạ Từ sinh năm 1940, tên thật là Lê Hà Vĩnh, sinh ra tại Hải Dương. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 khi đất nước chia cắt, định cư tại Sài Gòn, nơi ông bắt đầu làm thơ và viết báo, trở thành một thi sĩ được yêu thích trong giới văn nghệ miền Nam. Đầu thập niên 1960 ông cộng tác với Nguyên Sa làm tờ Gió Mới. Năm 1963 ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam vì bất đồng chính kiến.
Sau ngày 30/4/1975, Trần Dạ Từ cũng như vợ Nhã Ca, bị chính quyền Cộng sản Việt Nam bắt giữ vì bị xem là “biệt kích văn hóa”. Ông bị giam cầm từ năm 1976 đến 1988. Thời gian này ông cho ra đời hàng loạt bài thơ, nổi tiếng nhất là “Hòn đá làm ra lửa” dài hơn 4000 câu.
Năm 1989, dưới sự bảo trợ của chính phủ Thụy Ðiển, gia đình ông được sang nước này sinh sống, đến năm 1992 lại di cư sang quận Cam, California, Hoa Kỳ. Tại đây cùng với Nhã Ca, ông xuất bản tờ Việt Báo. (Nguoi Viet)

https://www.nguoi-viet.com/tho-doc-gia/mot-bai-tho-cu-nha-tho-tran-da-tu/

3) Theo một bài trong Báo Mới, văn sĩ này bị "long đong" và "những thành kiến đối với "Phá vây" không chỉ dừng lại ở những chỉ trích". Có tin đồn, sau "phá Vây", ông phải đi chăn vịt một thời gian rồi chuyển qua điện ảnh. Cuốn "Phá vây" thứ 2 ông phải viết lén, cho vào cái hủ đem chôn và chỉ được cho in sau khi ông mất, không biết số phận tác phẩm này ra sao.

“17 tuổi, nhà văn Phù Thăng đã tham gia cách mạng. Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm trinh sát của Trung đoàn 42 với nhiệm vụ chính là lấy cung tù binh Pháp vì ông rất giỏi tiếng Pháp. Ông cũng từng tham gia trinh sát trận đánh sân bay Cát Bi năm 1954 nổi tiếng. Thực tế này là nguồn tư liệu quý, khơi nguồn cảm hứng cho ông viết kịch bản phim "Biển lửa". Sau hòa bình, ông tham gia một đơn vị xây dựng kinh tế. Đến năm 1959 thì nhà văn Phù Thăng về làm biên tập viên tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cũng năm ấy, trường ca "Hoa vạn thọ" được ra đời và đoạt giải Ba cuộc thi thơ của Hội Nhà văn trên báo Văn nghệ. Năm 1961, tiểu thuyết "Phá vây" ra đời.

Tuy nhiên, có chuyện buồn trong cuộc đời cầm bút của nhà văn. Đang ở vào độ tuổi sung sức nhất, dồi dào sức sáng tạo nhất, sau khi miệt mài hoàn thành tiểu thuyết "Phá vây" đồ sộ với hơn 700 trang in thì nhà văn "gặp chuyện". "Phá vây" là cuốn tiểu thuyết xuất sắc về đề tài chiến tranh, viết về phân đội 5 của Trung đoàn 24, một đơn vị bộ đội địa phương, là lực lượng chính đối đầu với quân Pháp ở đồng bằng sông Hồng. Trong Trung đoàn 24 có Tiểu đoàn 123 do Lê Lâm chỉ huy, đã làm quân thù nhiều phen khiếp sợ...

"Phá vây" tập trung ca ngợi tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội và nhân dân khu vực tả ngạn sông Hồng trong thời kỳ chống Pháp. Tuy nhiên, trong tiểu thuyết có chi tiết nhà văn Phù Thăng để cho một nhân vật người lính của mình (Nghĩa) sau chiến tranh về nhà, thấy người mẹ già đang ngồi bới đống tro tàn trên cái nền đổ nát tan hoang để tìm mấy cái bát mẻ còn dùng được. Nhìn cảnh ấy, anh đã chua xót nghĩ rằng mọi cuộc chiến tranh đều là đau khổ; và người lính thật nhọc nhằn. Nếu có giành được vinh quang thì cũng phải trả giá thật đắt.

Khi "Phá vây" được mang ra "trình làng" thì đã có ý kiến của một số văn nghệ sĩ, nhà phê bình và những người "có trách nhiệm" cho rằng tư tưởng của nhà văn đã "có vấn đề". Tại sao lại để cho nhân vật là một chiến sĩ lại có những tư tưởng như thế? Lập trường quan điểm có sự lung lay, dao động chăng? “

(Nhà văn Phù Thăng: Những trang văn long đong như số phận người)

https://baomoi.com/nha-van-phu-thang-nhung-trang-van-long-dong-nhu-so-phan-nguoi/c/13626110.epi

4)Nhà văn Phù Thăng: Lận đận vẫn vui

https://baomoi.com/nha-van-phu-thang-lan-dan-van-vui/c/15198542.epi

5)”Giữa năm 1940 và 1945 ba người khổng lồ của thế kỷ hai mươi, người đã trở thành nhà lãnh đạo của thế giới tự do tại thời điểm khủng hoảng lớn nhất, đã chiến đấu một cuộc chiến bất thường trong một cuộc chiến. Đối với thế giới bên ngoài, họ là đồng minh thống nhất trong cuộc chiến chống lại Hitler. Đằng sau hậu trường, mối quan hệ của họ rất khác biệt.
Hai trong ba người là Thủ tướng Anh, Winston Churchill và nhà lãnh đạo Nước Pháp Tự Do, Tướng (sau này là Tổng thống) Charles de Gaulle. Tháng 6 năm 1940, khi Pháp sụp đổ trước Đức Quốc Xã, Churchill công nhận de Gaulle là 'người đàn ông định mệnh'. Nhưng mối quan hệ của họ sẽ trở thành một trò rollercoaster (chiếc xe đảo lên đảo xuống) của sự ngưỡng mộ lẫn nhau, sự nghi ngờ và, về phần Churchill, ghê tởm.
Người thứ ba là Tổng thống Mỹ, Franklin Roosevelt. De Gaulle đã gây ra Roosevelt nhiều rắc rối và nhiều mối điên đầu hơn bất kỳ người nào khác trong Thế chiến thứ hai. Đối với sự bối rối cực đoan của mình, Churchill thấy mình đang ở giữa một cuộc đấu tay đôi lạ lùng giữa Tổng thống Hoa Kỳ, người quyền lực nhất thế giới, và vị tướng người Pháp là kẻ đặt việc cứu vãn danh dự của đất nước đang bị tàn phá của mình trên bất cứ mọi thứ gì khác.”(BBC History)

http://www.bbc.co.uk/history/worldwars/wwtwo/allies_at_war_01.shtml (accessed 9/22/2018)

Hồ Văn Hiền

Ngày 21 tháng 8 năm 2017

Ngày 22 tháng 9 năm 2018

Share

Mục Văn-Học

Phụ-Trách

 

Với sự cộng tác:

  • Ái Hoa
  • Áng Vân
  • Bạch Xuân Phẻ
  • Dã-Tràng Biển Đông
  • Hà Việt Hùng
  • Hồ Văn Hiền
  • Huy Văn
  • Lê Hữu Uy
  • Ngô Minh Hằng
  • Nguyên Lương
  • Nguyên Nhung
  • Nguyên Tiêu
  • Nguyễn Hoàng Lãng-Du
  • Nguyễn Thanh Huy
  • Nguyễn Thị Thanh Dương
  • Nguyễn Xuân Thiên Tường
  • Tương Giang

Chủ-Trương

Do một số người yêu ngành giáo-dục, nhà giáo, trưởng Hướng-Đạo và toán Nghiên-Cứu Huấn-Luyện Dấn-Thân chủ-trương

Điều-Lệ

Những sáng-tác và sưu-tầm gửi cho Làng Huệ cần tính-cách xây-dựng, phát-triển con người; không chính-trị đảng phái, phe nhóm và không chỉ-trích, chê-bai. Khi gửi bài, tác-giả đồng-ý cho Làng Huệ phổ-biến miễn-phí trên sách báo và tuyển-tập.

Phối-Hợp

  • Hoàng Vĩnh Yên
  • Nguyễn Thị Thiên-Tường
  • Phạm Trần Quốc-Việt
  • Phù-Sa Việt

Contact / Liên-Lạc

Joomla templates by Joomlashine