"Đem đại-nghĩa để thắng hung-tàn. Lấy chí-nhân mà thay cường-bạo." ** Bình Ngô Đại-Cáo **

 

Nuôi Con Việt Trên Đất Mỹ:
Những ước mơ cho tuổi trẻ Việt Nam

 

NuoiConTrenDatMy H1 HVH

Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự hủy hoại của tâm hồn.
(Science sans conscience n'est que ruine de l'âme)

Francois Rabelais (tác giả Pháp thế kỷ 16)

Trên 30 năm trước, sau những năm đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ và bắt đầu hành nghề nhi khoa, tôi đã viết một bài về những ước mơ dành cho tuổi trẻ Việt Nam, đặc biệt là thế hệ sinh trưởng ở xứ người mà hồi đó tôi đã gom lại trong những tập sách tựa đề “Nuôi Con Việt Trên Đất Mỹ”. Hồi đó, điều trăn trở là làm sao cho các em được sinh ra, lớn lên trong điều kiện sức khỏe, giáo dục tốt hơn cha mẹ mình, vừa tiếp nhận những tiến bộ của xã hội Mỹ, vừa tránh được những lệch lạc của một xã hội tiêu thụ, nhiều cám dỗ. Hôm nay, nhìn lại quá nửa đời người, không chỉ cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà ngay tại quê nhà, chủng ta đang sống trong một bối cảnh hoàn toàn khác: Người Việt đã có những thành công trong một số mặt, nhưng cũng đang sống trong một xã hội ngập tràn thông tin, nơi mà hoang mang, tương đối chủ nghĩa và khủng hoảng niềm tin vào khoa học, vào thể chế dân chủ lại nổi lên như những vấn đề mới.

Những điểm chính ngày ấy
Ngày mới đến Mỹ, ưu tư của người bác sĩ nhi khoa trẻ tập trung vào vài điểm rõ ràng, then chốt.
Trước hết là ký ức về sức khỏe bà mẹ và trẻ em trong bối cảnh nghèo đói, thiếu dinh dưỡng, bệnh tật triền miên ở Việt Nam lúc chúng ta rời đất nước, và sau đó là những phấn đấu của gia đình tỵ nạn trong những năm đầu tiên với thu nhập không có hoặc thấp,“ chân ướt chân ráo “ lạ lẫm trên xứ người. Ước mơ hồi đó chỉ đơn sơ, là làm sao các bậc cha mẹ có đủ hiểu biết và điều kiện kinh tế để mang thai, sinh nở an toàn, nuôi con khỏe mạnh trong một nền y tế phức tạp của một xứ giàu có nhất thế giới.
Thứ hai là giấc mơ phổ cập kiến thức vệ sinh, y tế căn bản cho quần chúng – từ việc rửa tay, đun nước sôi, cho đến khám thai định kỳ, phòng bệnh hơn chữa bệnh nhất là có đầy đủ vắc xin để ngừa những bệnh nhiễm trùng đang làm mưa làm gió ở Việt Nam thời đó – với niềm tin rằng chỉ cần một trình độ giáo dục tối thiểu, chúng ta sẽ tránh được rất nhiều tai họa có thể xảy ra cho các em đang lớn.
Thứ ba là băn khoăn trước hệ thống bảo vệ quyền trẻ em ở Mỹ lúc đó, thật còn là một điều mới mẻ đối với người tỵ nạn: một mặt chúng ta mừng vì trẻ em được tôn trọng, được pháp luật che chở; mặt khác chúng ta lo ngại khi các biện pháp bảo vệ và can thiệp có thể đi quá xa, làm cha mẹ mất tự tin, mất chủ động trong việc giáo dục con cái, thậm chí bị “săn phù thủy” bởi những cáo buộc lạm dụng hay bỏ bê, khiến người lớn vừa sợ luật pháp, vừa không dám nghiêm khắc với con.

Bài viết năm xưa kết luận khá lạc quan vì lúc đó là thời khắc của niềm tin vào “nơi tận cùng lịch sử” (the end of history), của niềm tin vào “tự do dân chủ” (liberal democracy) sau khi khối Xô Viết sụp đổ và Hoa Kỳ đang say sưa trong hào quang chiến thắng của mình : 1
“Có lẽ sau một thời gian định cư trên đất Mỹ mới dần dần chúng ta cũng phải cố gắng tìm cho ra và định nghĩa cho rõ thế nào là di sản mà chúng ta muốn để lại cho thế hệ kế tiếp. Là thế hệ đầu tiên của người Việt Nam lập nghiệp trên đất Mỹ, cuộc sống của chúng ta chắc chắn không thiếu những cam go, gay cấn của những người phải tranh đấu, lao động để chen chân kiếm một chỗ đứng trong xã hội vật chất tân tiến và đầy cạnh tranh. Tuy nhiên, có thể thế hệ con cái của chúng ta sẽ không còn phải đương đầu với những vấn đề cơm áo như chúng ta đã từng vật lộn lúc mới đến xứ này nữa. Con cái chúng ta là thế hệ người Việt đầu tiên sinh trưởng trong xã hội hậu kỹ nghệ ở đó quan niệm về đấu tranh để sống còn, về giai cấp, về mục đích cuộc sống và ý nghĩa cuộc sống hoàn toàn được xét dưới những viễn tượng mới.
Francis Fukuyama, tác giả cuốn sách gây nhiều tranh luận trong giới chính trị và kinh tế "The End of History and the Last Man", đưa quan điểm cho rằng chúng ta đang sống ở Mỹ trong một xã hội ở cái gọi là "nơi tận cùng của lịch sử" (the end of history), trong đó nhu cầu vật chất và tự do cá nhân được xã hội bảo đảm đến đỗi sự tranh đấu để sống còn, không còn là ưu tiên hàng đầu của mọi người nữa; trong xã hội "dân chủ tự do" (liberal democracy) mà chúng ta được may mắn đang sống, sự tranh đấu quan trọng nhất là sự tranh đấu để được công nhận, được nể vì (fight for recognition).
Cái sự nể vì đó có thể là cái hư danh của một địa chỉ ở khu gia cư sang trọng, một chiếc xe hơi đắt tiền, một bằng cấp đại học, nhưng cũng có thể là một cái gì thanh tao hơn, cao cả hơn như trong chữ "danh" của tiền nhân chúng ta:

Ðã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông. 2

Ðem lại một tiếng thơm cho đồng bào, giúp ích được một chút ít cho nhân loại, bảo vệ môi trường trái đất, giữ gìn cho thế hệ mai sau, v...v... làm sao lấy chữ "danh" để đem lại ý nghĩa cho cuộc sống trong đoạn tận cùng lịch sử đó là thách đố của thế hệ Việt Nam kế tiếp trên đất nước trù phú này. Làm sao nuôi nấng dạy dỗ những người trẻ tuổi có đủ sức khỏe về thể chất cũng như tinh thần để sống xứng đáng với những thách đố đó là sự thử thách mà thế hệ phụ huynh chúng ta phải đương đầu trước ngưỡng cửa thế kỷ hai mươi mốt."

Việt Nam sau’ Đổi mới” (1986) và sau cấm vận:

Tuy chủ đề bài này vẫn là “nuôi con Việt trên đất Mỹ”, một đất nước phát triển, thiết tưởng chúng ta có thể mở ngoặc bàn thêm về giới trẻ trong nước. Dù sao thì khác biệt giữa giới trẻ trong nước và hải ngoại đã và đang thu hẹp rất nhiều. Hơn nữa, Việt Nam đang có tham vọng được xếp hạng vào các nước trung lưu thu nhập cao chỉ trong 5 năm và một nước phát triển với thu nhập cao chỉ trong 20 năm nữa. 3

Gần bốn mươi năm trôi qua, bộ mặt nước Việt Nam đã thay đổi sâu sắc. Từ một trong những nước nghèo nhất thế giới cuối thập niên 1980, nhờ Đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã trở thành nước thu nhập trung bình tuy ở mức thấp, với tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người vào loại cao trong khu vực; hàng chục triệu người đã thoát khỏi nghèo đói, tỷ lệ nghèo cùng cực (extreme poverty) giảm xuống mức 1–4% tùy chuẩn đo lường. 4
Các chỉ số y tế – như tử vong trẻ em, tuổi thọ trung bình, bao phủ bảo hiểm y tế – đều cải thiện rõ rệt: tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi giảm xuống quanh mức 12 trên 1.000 ca sinh sống, tuổi thọ tăng lên khoảng 74–75 tuổi, và trên 90% dân số đã tham gia bảo hiểm y tế. Trong giáo dục, Việt Nam đã phổ cập tiểu học, nâng mạnh tỷ lệ học trung học cơ sở và trung học phổ thông, đạt thành tích cao trong các đánh giá quốc tế về năng lực toán, đọc, khoa học so với mức thu nhập hiện nay.

Trong lĩnh vực thông tin – y tế, giáo dục – sự thay đổi còn ngoạn mục hơn. Tuy bắt đầu bằng một hạ tầng cơ sở về thông tin như đường dây điện thoại mặt đất (land line) ít ỏi, các kỹ thuật truyền thông mới không dây và nhất là các điện thoại thông minh rẻ tiền đã giúp Việt Nam đi thẳng vào thời đại kỹ thuật số và kết nối toàn cầu. Internet, điện thoại thông minh, mạng xã hội (như Zalo, Facebook) và các nền tảng số như YouTube, Instagram, TikTok đã khiến kiến thức về phòng bệnh, dinh dưỡng, sức khỏe sinh sản, HIV, Covid-19… trở nên phổ biến nhanh chóng trong dân chúng và giới trẻ. Bộ Y tế có thể gửi khuyến cáo trực tiếp tới hàng chục triệu người dùng qua ứng dụng, các chiến dịch truyền thông sức khỏe được triển khai rộng rãi, nhiều nghiên cứu cho thấy người trẻ sử dụng mạng xã hội để tìm hiểu và hỗ trợ lẫn nhau về sức khỏe thể chất lẫn tinh thần. Nếu ngày xưa ước mơ là phổ cập thông tin vệ sinh căn bản, thì hôm nay, trên bình diện “số lượng thông tin”, Việt Nam đã đi xa hơn cả mơ ước ban đầu và kinh nghiệm đại dịch Covid đã chứng minh điều này.
Do đó, những điều chúng ta bàn về tương lai của tuổi trẻ trên đất Mỹ cũng sẽ, không ít thì nhiều (có lẽ nhiều nhất ở các siêu đô thị), trong tương lai không gần thì xa, áp dụng cho giới trẻ ở quê nhà nếu chúng ta không quá bi quan về tương lai chính trị trong nước.

Hoa Kỳ: Biển thông tin mênh mông và sự hoang mang mới

Nhưng chính sự phong phú thông tin đó lại tạo ra một vòng xoáy hoang mang mới. Sau đại dịch Covid-19, không chỉ người dân bình thường mà ngay cả một bộ phận giới chuyên môn ở khắp nơi trên thế giới – kể cả trong cộng đồng Việt Nam – trải qua một giai đoạn tự vấn, xét lại, tranh cãi về dữ liệu, mô hình, chính sách y tế công cộng. Tin tức tự nó không phải là sự thật và càng nhiều tin tức không có nghĩa là đến gần hơn chân lý. Nhiều lý thuyết, thuyết âm mưu (conspiracy theories) về vaccine, bệnh tự kỷ, các tác dụng phụ lâu dài của tiêm chủng, vai trò của các hãng dược, của Trung tâm kiểm soát bệnh CDC, của Tổ chức Y tế Thế giới… được lan truyền hầu như không thể kiểm soát trong thời hậu Covid qua mạng xã hội; người ta có thể tìm thấy chứng cứ cho bất kỳ niềm tin nào, dù là chính thống hay bên lề. Tương tự, vấn đề biến đổi khí hậu, “ hâm nóng toàn cầu” do hiệu ứng nhà kính (global warming), cũng bị chính trị hóa nặng nề trong các nền dân chủ phương Tây , khiến một phần đáng kể của công chúng nghi ngờ cả những đồng thuận khoa học đã được xây dựng qua nhiều thập kỷ.

Ở bình diện thể chế, sự chậm chạp, mâu thuẫn, và đôi khi bất nhất trong phản ứng chính sách của các nước dân chủ trước dịch bệnh, khí hậu hay khủng hoảng kinh tế, làm nhiều người, kể cả một số người trẻ Việt Nam, đặt câu hỏi: phải chăng mô hình dân chủ tự do không còn ưu thế rõ rệt so với một chế độ tập trung, độc tài như ở Trung Quốc? Trong khi đó, tại Việt Nam, dù thành tựu kinh tế – xã hội rất đáng kể, vẫn còn khoảng một phần năm dân số sống trong tình trạng dễ tổn thương trước các cú sốc trong một nền kinh tế thị trường mới được thành lập, sự bất bình đẳng vùng miền, chênh lệch giữa đô thị và nông thôn, áp lực môi trường và biến đổi khí hậu đè nặng lên tương lai. Thế hệ trẻ vừa tiếp cận với thế giới số không biên giới, vừa phải xoay xở trong một thực tại mà chuẩn mực đạo đức, niềm tin vào khoa học, vào thể chế, vào truyền thông đều bị đặt câu hỏi cùng một lúc.

Thế giới: Giữa quan niệm tương đối về đạo đức và trách nhiệm công dân

Trong môi trường đó, nguy cơ lớn không chỉ là thiếu thông tin, mà là bội thực thông tin mà thiếu khả năng phân định. Khi mọi “lối sống” đều có người biện minh, mọi quan điểm đều có “số liệu” và “trích dẫn” phía sau, ranh giới giữa đúng – sai, thật – giả, khoa học – ngụy khoa học trở nên mờ nhạt trong mắt một bộ phận thanh thiếu niên. Chủ nghĩa tương đối đạo đức dễ dẫn đến thái độ dửng dưng: nếu cái gì cũng “tùy lựa chọn cá nhân”, thì điều gì còn có giá trị phổ quát để đáng hy sinh, phấn đấu? Đồng thời, sự phân cực chính trị – kể cả trong cộng đồng người Việt ở Mỹ – biến những câu hỏi y khoa, khí hậu, giáo dục thành chiến hào ý thức hệ, khiến đối thoại lắng nghe càng khó khăn.

Trong hoàn cảnh này, việc giữ vững một “trục định hướng” nội tâm – bao gồm lương tri, hiểu biết lịch sử, và ý thức trách nhiệm với cộng đồng – trở thành thiết yếu hơn bao giờ hết. Thanh niên Việt Nam cần được trang bị không chỉ tri thức chuyên môn, mà còn khả năng tư duy phản biện, phân tích nguồn tin, phân biệt chứng cứ khoa học với ý kiến chủ quan, hiểu rằng khoa học tiến bộ qua tranh luận nhưng không đồng nghĩa với việc “mọi thứ đều như nhau”. Đó là chỗ mà gia đình, nhà trường, và các tổ chức cộng đồng, tôn giáo, đoàn thể có thể bổ sung cho nhau, thay vì phó mặc cho thị trường thông tin tự vận hành.

Trở lại với “nhân cách”, ký ức và cộng đồng

Nếu năm xưa chúng ta ước mơ trọng tâm là sức khỏe thể chất và vài hiểu biết vệ sinh tối thiểu để trẻ em Việt Nam không còn èo uột, bệnh hoạn, thì hôm nay chúng ta cần mở rộng và đào sâu những ước vọng cho thời nay: làm sao để thế hệ trẻ có một đời sống tinh thần vững vàng, một nhân cách đủ mạnh để không trôi dạt trong biển thông tin và giá trị chập chờn. Sức khỏe thể chất vẫn là nền tảng, nhưng không đủ; song hành với nó phải là rèn luyện phẩm cách: trung thực, kiên trì, biết tự kiềm chế, biết tôn trọng sự thật, biết nhận lỗi và sửa sai. Những đức tính đó không thể tải xuống từ mạng, mà phải được gieo trồng qua gương sống của cha mẹ, thầy cô, những người lớn có trách nhiệm.

Ý thức văn hóa và lịch sử dân tộc cũng là một “vaccine tinh thần” chống lại hoang mang, đứt gãy. Biết mình đến từ đâu, thế hệ trước đã trải qua những gì – chiến tranh, đói nghèo, vượt biên, tái lập cuộc đời từ số không – sẽ giúp người trẻ đặt những khủng hoảng hiện tại vào một viễn cảnh dài hơn, bớt tuyệt vọng trước khó khăn, bớt say sưa với thành tựu. Trong bối cảnh đó, vai trò của cộng đồng – đặc biệt là những thế hệ đi trước trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại – lại càng quan trọng: không phải để áp đặt mô hình sống cũ, mà để đồng hành, nâng đỡ, chia sẻ kinh nghiệm và giữ một “ngọn lửa” đạo lý tối thiểu cho thế hệ mai sau.

Xa hơn “trận chiến để được công nhận”
Nếu ngày xưa chúng ta mơ ước “một trí óc minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”, thì hôm nay có lẽ phải cần thêm một nhân cách vững vàng, bén nhạy trước một “ biển “ thông tin thật hay giả , gắn bó với cội nguồn và biết sống cho người khác. Thách đố thật sự của tuổi trẻ Việt Nam Hải Ngoại không chỉ là sống còn hay thành đạt, để được công nhận trong cái gọi là “cuộc chiến để được công nhận” -battle for recognition- của Fukuyama, mà còn là sống sao cho xứng đáng với những người đã ngã xuống, với những thế hệ sẽ đến sau, và với chính lương tâm của mình.
"Trận chiến để được công nhận" theo Fukuyama là nhu cầu sâu sắc của con người muốn nhân phẩm, phẩm giá 5 của mình được người khác công nhận và đây là động lực chính của lịch sử, và nền dân chủ tự do hiện đại đặc biệt vì nó hứa hẹn sự công nhận phổ quát, bình đẳng cho tất cả mọi người. Cụm từ này xuất phát từ cách hiểu lịch sử lấy cảm hứng từ Hegel của ông, trong đó các xung đột, các cuộc cách mạng và các chính trị bản sắc ( identity politics) được hiểu là cuộc đấu tranh của các cá nhân và nhóm để được nhìn nhận và tôn trọng đúng cách.

Xã hội hậu thiếu thốn (post scarcity society)
Đi xa hơn nữa, chúng ta còn đang chứng kiến một cuộc chuyển dịch triết lý giáo dục lớn nhất trong lịch sử loài người. Mới đây, Elon Musk, người giàu nhất thế giới và thiên tài đa năng nhất thế giới hiện nay đã tiên đoán trong tương lai gần xã hội chúng ta sẽ có thu nhập cao phổ quát và tiền bạc cũng sẽ không cần thiết nữa. 6 Nếu viễn cảnh của Elon Musk thành hiện thực – khi AI làm hết việc khó và của cải vật chất dư thừa (post-scarcity economy) – thì mục đích của giáo dục sẽ không còn là "học để kiếm nghề" (vocational training) nữa, mà sẽ chuyển sang "học để làm người" và "học để sống hạnh phúc".

Nexus: đối mặt với AI
Thế giới của Elon Musk có lẽ còn lâu mới trở thành hiện thực (cũng như “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” của thiên đường cọng sản), tuy nhiên nó nhắc nhở chúng ta là khi vật chất không còn thiếu thốn như trong quá khứ gần đây, và trong một xã hội hầu như không còn áp lực “cơm áo gạo tiền”, con người sẽ không cần dùng trí thông minh để xử lý thông tin (information processing) nữa vì đã có máy tính phụ trách phần này. Con người sẽ đối diện với “Nexus” 7 , một mạng lưới thông tin (information network) do trí tuệ nhân tạo tạo nên và theo như tác giả Yuval Harari của cuốn sách cùng tên có thể sẽ điều khiển mọi khía cạnh của xã hội. Đứng trước ngưỡng cửa một tương lai có thể xảy ra như vậy, chúng ta cần tạo điều kiện cho con cái chúng ta phát triển óc suy luận để phân biệt thông tin và chân lý (sự thật) , giữa thực và ảo, xây dựng óc thẩm mỹ, bảo vệ nhân tính và nhân văn của con người, có trách nhiệm xã hội và tin tưởng vào con người dù chúng ta phải dựa vào máy móc. Con cái chúng ta có thể có mọi thứ nhưng bản thân chúng sẽ phải trả lời câu hỏi: “Mình sinh ra để làm gì, mình có trách nhiệm gì, và điều gì khiến mình hạnh phúc?”

Nghĩa và danh
Cho nên ngoài cuộc tranh đấu để được công nhận (chữ danh), thách đố kế tiếp đối với người trẻ Việt Nam còn là ý niệm về ý nghĩa cuộc sống, mà theo tôi nghĩ liên quan nhiều nhất với chữ “nghĩa” trong truyền thống của chúng ta. Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh định nghĩa là “ Việc theo đường lối phải- Đạo chính- Việc nên làm- Tương đối với chữ lợi.” Trong văn cảnh Việt, “nghĩa” gắn chặt với “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” và với “trung, hiếu, tiết, nghĩa”, nhấn mạnh trung thành, hiếu thảo, thủy chung, tận tụy với người và với đạo lý hơn là khẳng định cái tôi riêng như trong chữ danh.
“Nghĩa” là sống sao cho xứng đáng với những hy sinh của các thế hệ trước hoặc người đã ngã xuống, thế hệ hôm nay và những thế hệ sẽ đến sau, và với chính lương tâm của mình. Nói cách khác, “nghĩa” là phẩm chất đạo đức được chuẩn hoá mà bản thân chấp nhận: làm điều phải, giữ tình và bổn phận, đôi khi chấp nhận hy sinh bản thân. 8

Lời kết

Và để trở về với bài viết trên 30 năm trước, lời kết bây giờ sẽ khác, nhưng cũng không khác mấy:
Làm sao lấy chữ “Nhân”, chữ “Nghĩa” để thăng hoa chữ “danh”, đem lại ý nghĩa cho cuộc sống lúc lịch sử loài người đang chuyển mình là thách đố của thế hệ Việt Nam kế tiếp. Làm sao nuôi nấng dạy dỗ những người trẻ tuổi để sống xứng đáng với những thách đố đó là sự thử thách mà thế hệ phụ huynh chúng ta phải đương đầu khi chúng ta bước qua ngưỡng cửa của thời đại trí tuệ nhân tạo và mạng Nexus toàn cầu..

Bác sĩ Hồ Văn Hiền
Ngày 10 tháng 12 năm 2025

Chú Thích, Tham Khảo:

1 "Nơi Tận Cùng Lịch sử và Con Người Cuối Cùng" là một cuốn sách triết học chính trị xuất bản năm 1992 (từ một bài viết có từ năm 1989) của Francis Fukuyama, lập luận rằng với sự trỗi dậy của nền dân chủ tự do phương Tây diễn ra sau Chiến tranh Lạnh (1945–1991) và sự tan rã của Liên Xô (1991), nhân loại đã đạt đến không chỉ sự kết thúc của một giai đoạn lịch sử hậu chiến cụ thể, mà còn là điểm kết thúc của quá trình tiến hóa tư tưởng của nhân loại. Nền dân chủ tự do phương Tây sẽ là hình thức chính quyền cuối cùng của con người.(Fukuyama dựa trên các triết lý và hệ tư tưởng của G. W. F. Hegel và Karl Marx, những người định nghĩa lịch sử nhân loại là một sự tiến triển tuyến tính, từ kỷ nguyên kinh tế xã hội này sang kỷ nguyên kinh tế xã hội khác). Nhiều nhà bình luận phương Tây đã mô tả luận điểm của Fukuyama là sai và quá lạc quan. Những biến cố chính trị xảy ra sau đó cho thấy chúng ta chưa đạt đến mức tận cùng lịch sử và chính Fukuyama cũng công nhận ông đã kết luận quá sớm.

2 Nguyễn Công Trứ (1778-1858) trong bài Đi thi tự vịnh, có nghĩa viết lúc còn hàn vi:
Đi không, há lẽ trở về không?
Cái nợ cầm thư phải trả xong!
Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt
Trót đem thân thế hẹn tang bồng
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Trong cuộc trần ai, ai dễ biết?
Rồi ra mới rõ mặt anh hùng

3 Vietnam aims to become a developing country with modern industrialization, surpassing lower-middle-income status by 2025. By 2030, the goal is to achieve a high middle-income level, and by 2045, to become a developed country with high income, as outlined in the Resolution of the 13th National Congress of the Communist Party of Vietnam.
https://vietnam.vnanet.vn/english/long-form/vietnams-roadmap-to-high-income-status-383401.html

4 Trên quy mô toàn cầu của Ngân hàng Thế giới, "nghèo cùng cực" được định nghĩa là sống với mức dưới 2,15 đô la quốc tế cho mỗi người mỗi ngày (PPP 2017); theo đường này, tỷ lệ của Việt Nam đã giảm xuống mức rất thấp, dưới 1%, phản ánh sự giảm nhanh chóng về tình trạng thiếu thốn cùng cực.
https://www.ceicdata.com/en/vietnam/social-poverty-and-inequali
Không nên nhầm lẫn hoặc so sánh trực tiếp với “tỷ lệ nghèo’ chính thức của Hoa Kỳ (US poverty rate) là khoảng 10,6% vào năm 2024, tương ứng với khoảng 36 triệu người. Đối với một gia đình gồm hai người lớn và hai trẻ em, ngưỡng chính thức vào năm 2024 là khoảng 31.800 đô la Mỹ thu nhập hàng năm. Hoa Kỳ cũng theo dõi “deep poverty” hay"nghèo sâu đậm", thường được định nghĩa là thu nhập tiền mặt của hộ gia đình dưới 50% ngưỡng nghèo chính thức; khoảng 5% dân số Mỹ sống trong tình trạng nghèo cùng cực vào năm 2024.

5 "Con người có một thành phần tâm lý là "thymos", khao khát sự công nhận giá trị của họ. “Isothymia” là mong muốn được công nhận là bình đẳng và "megalothymia", mong muốn được hơn những người khác. "Trận chiến giành sự công nhận" là tên đặt cho các xung đột lịch sử và chính trị được tạo ra khi những yêu cầu về địa vị bình đẳng hoặc vượt trội xung đột, từ các cuộc cách mạng đến các phong trào dân tộc chủ nghĩa và dựa trên bản sắc.
Theo quan điểm của Fukuyama, các động lực megalothymic cho sự vượt trội nhiều hơn isothymic cho sự bình đẳng, và "trận chiến" không bao giờ biến mất hoàn toàn.

6 Dưới đây là những ý chính Elon Musk đã phát biểu tại Diễn đàn Đầu tư Mỹ - Ả Rập Xê Út (US-Saudi Investment Forum) ở Washington DC (11/2025):

1. Tiền bạc sẽ trở nên vô nghĩa (The end of money). Đây là điểm gây chấn động nhất. Musk cho rằng nếu AI và Robot tiếp tục phát triển như hiện nay, chúng ta sẽ đạt đến trạng thái "hậu khan hiếm" (post-scarcity): "Nếu bạn nhìn đủ xa về tương lai... tiền bạc sẽ không còn phù hợp nữa." Khi Robot làm hết việc, chi phí sản xuất hàng hóa và dịch vụ sẽ giảm xuống gần bằng 0. Khi mọi thứ đều quá rẻ và dư thừa, khái niệm "tiền" để trao đổi hàng hóa sẽ không còn cần thiết như bây giờ.
2. Từ "Thu nhập Cơ bản" sang "Thu nhập Cao Phổ quát"Musk sửa lại khái niệm Universal Basic Income (UBI - Thu nhập cơ bản) thành Universal High Income (UHI - Thu nhập cao phổ quát).
Không phải là chính phủ phát cho mỗi người một ít tiền để "đủ sống", mà là năng suất của Robot sẽ cao đến mức mọi người dân đều có thể hưởng thụ mức sống cao cấp. Mọi người sẽ có bất kỳ hàng hóa hay dịch vụ nào họ muốn.
3. Công việc sẽ chỉ là "Sở thích" (Work as a Hobby), công việc trong tương lai giống như việc trồng rau cho vui thay vì mua ở siêu thị.* Mục đích:Giáo dục để thưởng thức nghệ thuật, âm nhạc, văn học và tự mình sáng tạo ra chúng.
* Giáo dục: Khuyến khích sở thích cá nhân, sự tò mò và trí tưởng tượng bay bổng. Công việc lúc này trở thành "đam mê" (hobby) chứ không phải là lao động khổ sai (labor).
4. Triết học và Đạo đức
Khi con người nắm trong tay quyền năng công nghệ quá lớn, rủi ro lớn nhất không phải là thiếu tiền, mà là thiếu đạo đức.
* Mục đích: Giáo dục con cái về việc định nghĩa thế nào là "tốt", thế nào là "công bằng". Chúng ta cần những con người biết định hướng cho AI hành động vì lợi ích chung.
* Giáo dục: Dạy trẻ về trách nhiệm xã hội, luân lý và ý nghĩa của cuộc sống.
5. Khả năng thích nghi và Tự học (Learning to Learn)
Thế giới sẽ thay đổi rất nhanh, kiến thức hôm nay có thể lỗi thời vào ngày mai.
* Mục đích: Không dạy một kỹ năng cụ thể, mà dạy "kỹ năng của việc học".
* Giáo dục: Rèn luyện sự bền bỉ (resilience) và tâm thế cởi mở để con cái có thể tái định nghĩa bản thân nhiều lần trong đời.
Tóm lại: Thay vì đào tạo ra những "công nhân cần cù", chúng ta cần giáo dục để tạo ra những "con người tự do và hiền triết" – những người biết tận hưởng cuộc sống, biết yêu thương và biết sử dụng công nghệ để phục vụ cho sự thăng hoa của nhân loại.

7 Sách mới của Yuval Noah Harari, tựa đề "Nexus: Lược sử mạng thông tin từ thời kỳ đồ đá đến AI" (Nexus: A Brief History of Information Networks from the Stone Age to AI). Harari định nghĩa "Nexus" là một mạng lưới thông tin kết nối mọi người. Ông lập luận rằng sức mạnh của nhân loại đến từ khả năng xây dựng các mạng lưới này (như tôn giáo, bộ máy quan liêu và thị trường tài chính). Trong hàng ngàn năm, những mạng lưới này được xây dựng bởi con người. Giờ đây, với AI, chúng ta đang đưa các tác nhân không phải con người vào mối quan hệ. AI không chỉ là một công cụ; nó có thể tự đưa ra quyết định và tạo ra những ý tưởng mới.
Ý nghĩa đối với các thế hệ tương lai
• Sự kết thúc của sự thật nhân loại (human truth): Các thế hệ tương lai có thể lớn lên trong một thế giới mà phần lớn các văn bản, hình ảnh và "chất kết dính văn hóa" được tạo ra bởi trí thông minh không phải con người. Họ có thể khó phân biệt giữa thực tế con người và hư cấu do AI tạo ra.
• "Bức màn silicon": Harari cảnh báo rằng thế giới có thể chia thành các thế giới thông tin đối thủ (rival information spheres) được điều khiển bởi các thuật toán, con người trong các "bong bóng" khác nhau không còn có thể hiểu hoặc giao tiếp với nhau (tương tự như thế giới tự do và thế giới cọng sản thời chiến tranh lạnh).
• Mất quyền điều khiển: AI sẽ quyết định ai được vay tiền, ai được làm việc hoặc ai vào tù (các quyết định quan liêu), các thế hệ tương lai có thể mất khả năng hiểu tại sao cuộc sống của họ lại diễn ra như vậy. Họ trở thành đối tượng của một hệ thống "hộp đen" (black box system).
Để chuẩn bị cho thế hệ tương lai trong "hệ thống Nexus", bạn cần dạy con:
1. Kỹ năng hoài nghi (Vetting): Luôn tự hỏi "Thông tin này đến từ đâu? Ai/Cái gì tạo ra nó và với mục đích gì?".
2. Máy móc là công cụ để xử lý thông tin, nhưng con người mới là nơi để đặt niềm tin.
Duy trì niềm tin sinh học (maintaining biological trust) là khái niệm sâu sắc nhất và là "tấm khiên" cuối cùng của loài người. Máy móc có thể thông minh (intelligence), nhưng chỉ sinh vật sống mới có ý thức (consciousness) và khả năng cảm nhận nỗi đau (suffering). Ví dụ, khi bạn tin một bác sĩ, bạn tin vì họ cũng là con người, cũng biết đau đớn và sợ hãi cái chết như bạn, khác với một bác sĩ AI, đó là niềm tin mù quáng, vì AI không sợ chết và không chịu trách nhiệm đạo đức nếu nó chẩn đoán sai.
Nếu chúng ta để AI làm trung gian cho mọi mối quan hệ (AI chọn người yêu cho bạn, AI dạy con bạn, AI chăm sóc cha mẹ già), chúng ta sẽ đánh mất "biological trust". Xã hội sẽ sụp đổ vì con người không còn tin nhau nữa, mà chỉ tin vào thuật toán.

8 Khác với “ battle for recognition”, chữ “nghĩa” (義) trong Nho giáo và trong đạo lý đông phương thường được dịch là “righteousness/justice”: hành vi hợp đạo lý, đúng lẽ phải, đúng bổn phận trong các quan hệ xã hội (vua tôi, cha con, vợ chồng, bằng hữu).
Khổng giáo, trước đây là nền tảng của đa số nguyên tắc đạo đức của người Việt, cũng từng bị lung lay hồi đầu thế kỷ thứ 20 lúc Việt Nam đối diện với những khoa học kỹ thuật và các từ tưởng dân chủ tiến bộ của phương Tây đang bá chủ thế giới. Học giả Trần Trọng Kim, tác giả cuốn Nho Giáo, cùng xu hướng “Tân Nho học” muốn hiện đại hóa Nho giáo, coi văn minh công nghiệp phương Tây (dân chủ, khoa học, kĩ thuật) là khuôn mẫu phát triển tất yếu, nhưng không đồng tình với chủ nghĩa thực dụng, duy vật của lối sống Âu Mỹ.

 

Thống-Kê Vào Làng

Viet Nam 39.6% Viet Nam
China 17.6% China
United States of America 17.1% United States of America
Italy 7.6% Italy
Germany 5.4% Germany
Brazil 2.9% Brazil
Canada 1.8% Canada

Total:

127

Countries