"Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá tràng-kình ở Biển Đông, quét sạch bờ-cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm-đuối chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu, cong lưng làm tỳ-thiếp cho người ta." ** Triệu Thị Trinh **

 

Bệnh Lý Nhi Khoa Lúc Sang Thu: Căn Nguyên, Thách Thức Lâm Sàng và Sự Chuẩn Bị Cho Phụ Huynh

 

Mỗi độ thu về, các em học sinh bước vào một năm học mới, các phòng khám nhi khoa lại bắt đầu đối mặt với một số vấn đề quen thuộc. Không chỉ phải giải quyết các bệnh đường hô hấp thường gặp trong giai đoạn thu đông, bối cảnh y tế hiện nay còn đặt ra nhiều thách thức mới từ sự thay đổi trong chính sách tiêm chủng, dinh dưỡng và phòng bệnh ở cấp liên bang của Tổng Thống Trump và bộ trưởng y tế Robert Kennedy Jr., đối nghịch với một số tiểu bang và các hội đoàn y khoa , cho đến các phác đồ điều trị, những câu hỏi nan giải dành cho các bậc phụ huynh và bác sĩ của họ.

1. Từ nhiễm trùng đến dị ứng

Cảm lạnh và cúm (Cold & Flu): “Cảm” và “bệnh cúm” do các siêu vi như rhinovirus hay influenza virus gây ra. Quan niệm dân gian cho rằng đi ngoài mưa lạnh hay gội đầu nước lạnh trực tiếp gây bệnh “cảm” có thể không chính xác và trước đây thường bị y giới chế diễu. Y khoa chính thống thường giải thích việc cảm cúm tăng mùa thu hay mùa đông là do chúng ta ở trong nhà nhiều hơn và do đó các vi khuẩn như rhinovirus và influenza virus lây lan dễ dàng hơn. Tuy nhiên, có những thí nghiệm gần đây cho thấy hoàn cảnh sinh bệnh lý của bệnh cảm không đơn giản như chúng ta tưởng.

 

Thí nghiệm tại Cardiff (Anh, 2005) đã chứng minh người nhúng chân vào nước đá có nguy cơ mắc cảm cao gấp đôi, đồng thời không khí lạnh cũng dễ làm bùng phát cơn suyễn (cold-induced asthma) ở trẻ có cơ địa nhạy cảm.1

Các nghiên cứu gần đây cũng chứng minh là nhiệt độ thấp (không khí lạnh) làm giảm sự phòng thủ của niêm mạc hô hấp, cụ thể là các “túi ngoại bào” (extracellular vesicles) đóng vai như mồi nhữ và giết chết các virus tấn công, cũng như các “cilia” hay “lông chuyển”2 trên các tế bào nhầy có nhiệm vụ “quét rác” (mucociliary clearance) trong đường hô hấp cũng hoạt động giảm đi trong môi trường lạnh.3

 

Phân biệt "cảm" và "cúm": Cảm lạnh do rhinovirus thường có triệu chứng nhẹ như sổ mũi, hắt hơi, ít sốt. Ngược lại, cúm (influenza) thường xuất hiện đột ngột với sốt cao, nhức đầu liên tục, đau mỏi cơ khớp trầm trọng và tình trạng kiệt sức kéo dài nhiều tuần. Tuy nhiên, cúm có thể có những biểu hiện nhẹ thôi, khó phân biệt với bệnh cảm thường hay COVID, nhất là ở người được chủng ngừa. Xét nghiệm nhanh trên nước mũi hoặc quệt họng (nasal or throat swab) phân biệt được các trường hợp này.

Về cấu trúc, virus cúm sở hữu các protein bề mặt như hemagglutinin (H)neuraminidase (N) thay đổi hằng năm, trong khi protein M2 đang được nghiên cứu để tạo ra vaccine toàn mùa (perennial vaccine).

 

Vắc xin ngừa cúm: Theo khuyến cáo từ CDC và Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP), tất cả trẻ em từ 6 tháng tuổi trở lên nên được tiêm vắc-xin phòng cúm hàng năm, lý tưởng nhất là vào đầu mùa thu (tháng 9 hoặc tháng 10). Đối với trẻ từ 6 tháng đến 8 tuổi tiêm phòng cúm lần đầu hoặc chưa từng tiêm đủ 2 mũi trong quá khứ, trẻ cần được tiêm 2 liều cách nhau ít nhất 4 tuần để tạo đáp ứng miễn dịch đầy đủ; trong khi trẻ từ 9 tuổi trở lên hoặc trẻ đã tiêm đủ các mùa trước chỉ cần 1 liều duy nhất mỗi năm. Các lựa chọn vắc-xin bao gồm dạng tiêm bất hoạt (IIV) dành cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên và dạng xịt mũi giảm độc lực (LAIV; Flumist) dành cho trẻ khỏe mạnh từ 2 tuổi trở lên không có bệnh lý nền chống chỉ định.4

 

Nghiên cứu cho một vắc xin cúm không thay đổi hàng năm

Hiện nay, chủng ngừa cúm có thể bằng thuốc chích, và thuốc xịt vào mũi, khỏi chích (như Flumist, có chứa virus còn sống, nhưng đã làm yếu đi), nhưng mỗi năm phải chủng lại với một vắc xin mới.Các protein H và N của virus influenza trong vắc xin được thay đổi hàng năm cho phù hợp với virus được tiên đoán sẽ thịnh hành mùa đông năm đó, cho nên nếu không dùng thuốc mới, có thể hệ miễn nhiễm chúng ta không nhận ra chúng được. Đã qua nhiều năm , người ta nghiên cứu vaccine dựa trên một protein khác của virus cúm gọi là protein M2. Protein M2 không thay đổi từ thập niên 1930 đối với virus gây bệnh cúm ở người. Nếu thành công, loại vaccine mới này sẽ hy vọng có hiệu lực năm này qua năm khác (perennial vaccine), không cần chích hay xịt mũi hàng năm (seasonal vaccine).

Tuy nhiên, "Vắc-xin cúm phổ quát" M2/M2e đã gặp phải vấn đề sinh học là M2e có khả năng miễn dịch kém và khó cung cấp sự bảo vệ mạnh mẽ, bền bỉ trên con người. Các ứng viên trước đó bị đình trệ trong quá trình phát triển lâm sàng. Khái niệm này hiện đang được xem xét lại với các nền tảng vắc xin mới hơn, bao gồm cả vắc xin M2 do nấm men sản xuất được báo cáo ngày 26 tháng 8 năm 2026.Cùng với việc nhắm mục tiêu M2, họ nhằm mục đích phát triển một hệ thống nhanh chóng, tiết kiệm chi phí hơn để sản xuất ở quy mô lớn mà không cần ấp trứng gà như vắc xin cúm cổ điển. ⁠ Cách tiếp cận của họ sử dụng men làm bánh (Saccharomyces cerevisiae) để tạo ra các hạt tương tự như virus hiển thị protein M2 trên bề mặt của chúng ( M2 containing virus like particles) nhưng không chứa vật liệu virus di truyền gây nhiễm trùng.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những con chuột được tiêm phòng bằng các hạt chứa M2 này đã được bảo vệ chống lại sự lây nhiễm từ ba chủng cúm khác nhau. (theo Reuters)

 

Bệnh do RSV

 

RSV (Respiratory Syncytial Virus)5 tấn công tiểu phế quản (bronchioles) gây khò khè (wheezing) nặng ở trẻ nhỏ. Viêm tiểu phế quản (bronchiolitis) là một rối loạn thường do nhiễm trùng đường hô hấp dưới (lower respiratory infection) do virus ở trẻ sơ sinh, các đặc tính gồm viêm cấp tính, phù, hoại tử của các tế bào biểu mô lót đường dẫn khí nhỏ, và tăng sản xuất chất nhầy.

Triệu chứng: thường bắt đầu bằng viêm mũi và ho, có thể tiến triển thành thở nhanh, thở khò khè, rales, sử dụng các cơ hô hấp phụ và cánh mũi phập phồng (nasal flaring).

Nhiều loại virus lây nhiễm hệ hô hấp gây ra các dấu hiệu và triệu chứng tương tự. Nguyên nhân phổ biến nhất của viêm tiểu phế quản là virus hợp bào hô hấp (RSV, viêt tắc của respiratory syncitial virus), với tỷ lệ nhiễm trùng cao nhất xảy ra trong khoảng từ tháng 12 đến tháng 3 ở Bắc Mỹ; tuy cũng tuy theo khu vực.

90% trẻ em bị nhiễm RSV trong 2 năm đầu đời, và đến 40% sẽ bị nhiễm trùng đường hô hấp dưới khi nhiễm RSV lần đầu.

Nhiễm RSV không tạo nên miễn dịch vĩnh viễn hoặc lâu dài, với các trường hợp tái nhiễm phổ biến trong suốt cuộc đời.

Các loại virus khác gây viêm tiểu phế quản bao gồm các virus ở người như: virus mũi (rhinovirus), metapneumovirus, cúm, adenovirus, coronavirus, và virus parainfluenza.

 

Tại Hoa Kỳ, trước khi các biện pháp dự phòng RSV dành cho mẹ và trẻ nhỏ được triển khai rộng rãi, mỗi năm ước tính có khoảng 58.000–80.000 trẻ dưới 5 tuổi phải nhập viện do RSV; nguy cơ tập trung cao nhất ở những trẻ còn rất nhỏ, đặc biệt trong 3 tháng đầu đời. CDC ước tính hằng năm có khoảng 2–3/100 trẻ dưới 3 tháng tuổi phải nhập viện vì RSV. RSV cũng được xem là nguyên nhân hàng đầu gây nhập viện ở trẻ sơ sinh tại Hoa Kỳ.

 

Trên phạm vi toàn cầu, ước tính năm 2019 cho thấy RSV gây khoảng 33 triệu đợt nhiễm trùng hô hấp dưới cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó có khoảng 3,6 triệu ca nhập viện và khoảng 100.000 ca tử vong liên quan đến RSV mỗi năm. Gánh nặng bệnh tật và tử vong chủ yếu xảy ra tại các nước có thu nhập thấp và trung bình.

 

Khi trẻ mắc RSV và biểu hiện viêm tiểu phế quản, điều trị chủ yếu là điều trị hỗ trợ: theo dõi nhịp thở và dấu hiệu suy hô hấp, bảo đảm trẻ bú hoặc uống đủ dịch, làm thông thoáng mũi bằng nước muối sinh lý và hút dịch mũi nhẹ khi cần. Trẻ có giảm oxy máu, khó thở rõ, ngừng thở, bú kém hoặc mất nước có thể cần nhập viện để thở oxy, bù dịch (rehydration) và hỗ trợ hô hấp tùy mức độ nặng. Với viêm tiểu phế quản không biến chứng ở trẻ khỏe mạnh, không nên dùng thường quy kháng sinh, corticosteroid hoặc thuốc giãn phế quản vì chưa chứng minh được lợi ích nhất quán. Tuy nhiên, trên thực tế, các bác sĩ dùng các biện pháp kể trên cho các trường hợp RSV nhiều hơn là được gợi ý trong phác đồ của hội các bác sĩ nhi khoa AAP.

 

Hiện nay, phòng bệnh đã có vai trò đặc biệt quan trọng: trẻ trong mùa RSV đầu tiên có thể được bảo vệ bằng một trong các biện pháp là tiêm vắc-xin RSV cho mẹ khi mang thai hoặc sử dụng kháng thể đơn dòng (monoclonal antibodies) tác dụng kéo dài cho trẻ nếu mẹ em bé không được chích ngừa . Dữ liệu giám sát tại Hoa Kỳ cho thấy các biện pháp này đã đi kèm mức giảm 28–43% tỷ lệ nhập viện liên quan RSV ở trẻ 0–7 tháng, so với các mùa trước khi chúng được đưa vào sử dụng.

 

“CDC khuyến nghị tiêm vắc-xin virus hợp bào hô hấp (RSV) cho phụ nữ mang thai để bảo vệ con mình khỏi bệnh RSV nặng. Phụ nữ mang thai nên tiêm một liều vắc-xin RSV cho mẹ (Pfizer's Abrysvo) trong khoảng thời gian từ tuần thứ 32 đến tuần thứ 36 của thai kỳ. Những loại vắc-xin này được tiêm từ tháng 9 đến tháng 1 ở hầu hết nước Hoa Kỳ. Sự bảo vệ được cung cấp bởi vắc-xin mẹ, được truyền từ mẹ sang em bé, suy yếu theo thời gian. Bởi vì những loại vắc-xin này được tiêm từ tháng 9 đến tháng 1, nên sự bảo vệ được truyền cho em bé sẽ kéo dài suốt mùa RSV đầu tiên của chúng.” (CDC)

 

Một số vấn đề khác: Viêm tai giữa cấp (acute otitis media) thường là hậu quả của việc tắc nghẽn vòi Eustachian sau nhiễm siêu vi, tạo môi trường trong tai giữa cho vi khuẩn phát triển. Trong khi đó, Norovirus có thể hoành hành mạnh trong trường học, gây viêm dạ dày ruột cấp với triệu chứng nôn ói và tiêu chảy dữ dội.

Phấn hoa cỏ dại (như ragweed) và nấm mốc kích hoạt hệ miễn dịch qua trung gian IgE, gây viêm mũi dị ứng và bùng phát hen phế quản ở trẻ.

 

Dị ứng thường gặp vào mùa thu:

Mùa thu là thời kỳ nhiều người nhạy cảm với phấn hoa cỏ dại, nhất là phấn hoa ragweed (một chi cỏ dại gọi là Ambrosia), và với bào tử nấm mốc ngoài trời ( outdoor mold spores).

Bào tử nấm mốc không phải là phấn hoa ( pollen), mà là những hạt sinh sản cực nhỏ của nấm, có thể bay lẫn trong không khí và đi vào mũi, mắt hoặc đường hô hấp. Khi người có cơ địa dị ứng hít phải , hệ miễn dịch có thể phản ứng quá mức, gây ra:

• Hắt hơi, sổ mũi hoặc nghẹt mũi

• Ngứa mũi, chảy máu mũi, ngứa họng, ngứa mắt; mắt đỏ hoặc chảy nước mắt

• Ho, cảm giác dịch chảy xuống họng

• Khò khè, nặng ngực hoặc khó thở ở người có hen suyễn

Các triệu chứng này có thể giống cảm lạnh, nhưng thường tái diễn theo nơi chốn và thời tiết: chẳng hạn, rõ hơn sau khi làm vườn, xới đất, cắt cỏ, thu gom lá mục, tiếp xúc với phân ủ, hoặc ở nơi ẩm mốc.

 

-Vì sao đi ra ngoài sau cơn mưa chúng ta có thể khó chịu?

Sau một cơn mưa, đất, cỏ, lá rụng và các chất hữu cơ trở nên ẩm và ấm. Đây là điều kiện thuận lợi cho nấm mốc sinh trưởng. Lá mục, gỗ mục, đống compost, lớp phủ mùn, đất và thảm thực vật ẩm đều có thể là nguồn phát tán bào tử.

Nói chính xác, bào tử nấm không “bốc hơi” từ mặt đất như hơi nước. Nấm tạo và phóng thích bào tử; sau đó gió, hoạt động làm vườn, cắt cỏ, quét lá hoặc không khí chuyển động có thể cuốn chúng lên và đưa vào không khí. Người dị ứng có thể thấy triệu chứng bùng phát lên khi đi ra ngoài vào lúc đất còn ẩm sau mưa, nhất là khi trời sau đó ấm lên hoặc có gió.

Mức bào tử thay đổi theo vùng và thời tiết. Ở Hoa Kỳ, bào tử mốc ngoài trời thường đạt mức cao vào tháng Bảy tại các bang ấm hơn, còn ở các bang lạnh hơn có thể lên đỉnh vào khoảng tháng Mười. Tại nơi nóng ẩm, chúng có thể hiện diện gần như quanh năm.

 

-Phấn hoa ragweed xảy ra vào mùa nào?

Ragweed chủ yếu là tác nhân dị ứng của cuối mùa hè và mùa thu. Tại nhiều vùng Hoa Kỳ, cây bắt đầu tung phấn khoảng tháng 8, thường mạnh nhất vào giữa tháng 9, rồi kéo dài cho đến khi đợt sương giá đầu tiên làm cây tàn—thường tổng cộng khoảng sáu đến mười tuần, tùy nơi.

Vì vậy, vào khoảng cuối tháng 8 đến tháng 9, một người ở Virginia có thể đồng thời gặp hai nguồn kích thích:

• Phấn ragweed và các cỏ dại khác.

• Bào tử nấm mốc từ lá rụng, đất ẩm, cỏ và chất hữu cơ đang phân hủy.

Ragweed có nguồn gốc ở Bắc Mỹ, nhưng không chỉ có tại Hoa Kỳ: nó đã lan rộng và trở thành loài xâm lấn tại nhiều phần của châu Âu, châu Á, Úc và một số nơi ở châu Phi.

 

Ẩm mốc trong nhà mùa đông

Mùa đông, phấn hoa ngoài trời có thể giảm ở vùng lạnh, nhưng dị ứng vẫn có thể dai dẳng vì con người ở trong nhà nhiều hơn. Nhà đóng kín để giữ ấm, cửa sổ ít mở, hơi nước từ tắm rửa, nấu ăn, máy tạo ẩm, quần áo phơi trong nhà, rò rỉ nước hoặc tầng hầm ẩm đều có thể làm độ ẩm tích tụ, giúp nấm mốc phát triển.

Dị ứng mốc trong nhà có thể gây nghẹt mũi, hắt hơi, ngứa mắt, ho và làm hen suyễn nặng thêm. Triệu chứng có thể kéo dài quanh năm nhưng thường đáng chú ý hơn vào mùa đông nếu nhà ẩm và ít thông khí.

Biện pháp nền tảng là xử lý nguồn ẩm, chứ không chỉ che lấp hay xịt chất khử mùi: sửa chỗ rò rỉ nước, thông gió tốt khi tắm và nấu ăn, làm khô khu vực bị ướt, và duy trì độ ẩm trong nhà dưới 50% bằng máy đo ẩm/máy hút ẩm (dehumidifier) nếu cần.

2. Thách thức trong hành nghề y khoa

  • Thay đổi từ CDC liên bang: Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) đã thu hẹp danh mục tiêm định kỳ và chuyển một số vaccine quan trọng (như cúm mùa, COVID-19, viêm gan A/B, rotavirus, não mô cầu) sang cơ chế "quyết định chia sẻ lâm sàng" (shared clinical decision-making, phụ huynh bàn luận với bác sĩ để quyết định) hoặc “nhóm nguy cơ cao” (chỉ người có nguy cơ nhiễm mới được chích ngừa vắc xin) nhằm đơn giản hóa lịch tiêm và trao quyền tự chủ hơn cho phụ huynh.6

  • Lập trường của các hội chuyên khoa và sở y tế địa phương: Trái ngược với xu hướng của liên bang, các tổ chức uy tín như Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP), Hội đồng Y khoa, và Hội Sản Phụ Khoa (ACOG) vẫn giữ vững tiêu chuẩn toàn diện, bảo vệ lịch tiêm chủng đầy đủ để ngăn ngừa bệnh nặng. Các Sở Y tế tiểu bang (như Virginia hay California) tiếp tục bám sát hướng dẫn của AAP, ACOG để duy trì yêu cầu y tế học đường chặt chẽ.

  • Áp lực tư vấn đối với bác sĩ gia đình: Sự khác biệt giữa khuyến nghị liên bang và quy định tiểu bang khiến các bác sĩ phải dành nhiều thời gian hơn để thảo luận cặn kẽ về lợi ích và nguy cơ (pros and cons) với phụ huynh. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các mũi tiêm gây nhiều tranh luận như HPV (Gardasil, ngừa nhiễm HPV qua đường tình dục) hay các vaccine ngừa cúm mùa thu, giúp gia đình vượt qua ngần ngại tâm lý và tuân thủ đúng yêu cầu nhập học của trường.

3. Phụ huynh cần chuẩn bị gì lúc sáng thu?

  • Nâng cao nhận thức: Chủ động nắm bắt các triệu chứng phân biệt giữa cảm lạnh thông thường và cúm để theo dõi sức khỏe của con cái chính xác hơn.

  • Thảo luận cởi mở với bác sĩ: Chuẩn bị tinh thần trao đổi kỹ lưỡng với bác sĩ nhi khoa/gia đình về lịch tiêm chủng mới, các mũi vaccine bắt buộc cho trường học và các lựa chọn để phòng ngừa bệnh ở mức cao hơn..

  • Chăm sóc và dự phòng: Giữ ấm đường hô hấp khi thời tiết chuyển lạnh, đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ, vệ sinh cá nhân sạch sẽ để tăng cường đề kháng cho trẻ trước các đợt dịch bệnh mùa thu và đông.

 

 

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Ngày 28 tháng 8 năm 2026

 

1 Nghiên cứu năm 2005 của Trung tâm Cảm lạnh Thông thường thuộc Đại học Cardiff (Cardiff University Common Cold Centre*), do Giáo sư Ronald Eccles và cộng sự thực hiện, tháng 11–12/2005 trên tạp chí Family Practice (Oxford University Press).

Mục tiêu: Kiểm chứng giả thuyết dân gian xem việc cơ thể bị nhiễm lạnh đột ngột có trực tiếp kích hoạt các triệu chứng cảm lạnh/nhiễm siêu vi đường hô hấp hay không.

Nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên trên 180 tình nguyện viên khỏe mạnh.

Nhóm can thiệp (90 người): Ngâm chân trần trong nước đá lạnh (khoảng 10°C) trong 20 phút.

Nhóm chứng (90 người): Đặt chân vào một chậu rỗng không có nước trong 20 phút.

Kết quả chính:

* Ngay sau khi ngâm chân, không có sự khác biệt tức thì về triệu chứng hô hấp giữa hai nhóm.

* Sau 4–5 ngày theo dõi, tỷ lệ phát triển triệu chứng cảm lạnh thực sự ở nhóm bị làm lạnh cao vượt trội so với nhóm chứng.

* Đáng chú ý, những người khởi phát bệnh sau khi bị lạnh thường là những cá nhân có tiền sử dễ bị cảm lạnh trong năm.

Cơ chế sinh lý học và mối liên hệ với các đợt bùng phát hen suyễn (asthma exacerbations):

-Phản xạ co mạch (reflex vasoconstriction): Nhiễm lạnh ngoại biên (như lạnh bàn chân hoặc ướt mưa) kích hoạt phản xạ thần kinh giao cảm gây co thắt mạch máu cục bộ tại niêm mạc khoang mũi và đường hô hấp trên.

-Làm suy giảm miễn dịch tại chỗ: Sự co mạch làm giảm đáng kể lượng máu nuôi dưỡng và số lượng tế bào bạch cầu đến bảo vệ biểu mô đường thở, đồng thời làm chậm hoạt động của hệ thống thanh thải nhầy – lông chuyển (mucociliary clearance).

-Chuyển nhiễm trùng tiềm ẩn thành bệnh lý thực thể: Trong cộng đồng, nhiều người mang mầm bệnh virus hô hấp (như rhinovirus) ở trạng thái dưới lâm sàng (không có triệu chứng). Khi hàng rào miễn dịch bị ức chế do co mạch vì nhiễm lạnh, virus dễ dàng nhân đôi mạnh mẽ, bùng phát thành đợt viêm đường hô hấp cấp tính.

-Khởi phát cơn hen cấp: Đối với bệnh nhân hen suyễn, nhiễm trùng siêu vi đường hô hấp trên chính là tác nhân kích hoạt phổ biến nhất (chiếm tới 80–85% các đợt cấp tính ở trẻ em). Bằng cách thúc đẩy virus tiềm ẩn bùng phát, nhiễm lạnh gián tiếp kích hoạt phản ứng viêm “lôi cuốn nhau như thác đổ” (cascade) và tăng tính phản ứng của phế quản, dẫn đến cơn hen phế quản cấp.

Kết luận: Nghiên cứu của Cardiff chứng minh rằng sự nhiễm lạnh thể chất không tự tạo ra virus, nhưng hoạt động như một “yếu tố chuyển đổi sinh lý” (physiological trigger) làm co mạch niêm mạc và suy yếu đề kháng tại chỗ, tạo điều kiện cho virus đường hô hấp bùng phát và dẫn đến các đợt kịch phát hen suyễn.

 

2 Mỗi tế bào ciliated cell mang khoảng 200 cấu trúc giống như sợi tóc, gọi là “cilia” hay lông chuyển; chúng dao động đồng bộ với tần số từ 10 đến 15 Hz (số nhịp mỗi giây) theo kiểu sóng phối hợp (gọi là sóng metachronal).

Cơ chế “thanh thải nhầy do lông chuyển” (MCC or muco-ciliary clearance)) là cơ chế phòng vệ vật lý bẩm sinh chủ yếu của đường hô hấp. Thường được ví như một “muco-ciliary escalator” ( "băng chuyền nhầy-lông chuyển"), cơ chế này liên tục giữ lại trong chất nhầy các tác nhân gây bệnh, dị nguyên (hay kháng nguyên/allergen) và các hạt bụi mịn hít phải, sau đó đẩy chúng ngược lên khỏi đường thở để được nuốt xuống thực quản hoặc khạc ra ngoài. Phía mũi, các lông chuyển đẩy chất nhờn về phía họng. Nhiệt độ thấp làm chất nhầy khô đặc lại và tần số các cilia giảm, làm cho sự thanh thải kém hiệu nghiệm.

 

3 Chúng ta có thể nêu sau đây các nghiên cứu tiêu biểu gần đây:

1)Nghiên cứu về túi ngoại bào tại mũi (Mass Eye and Ear / ĐH Northeastern – Công bố 12/2022 trên JACI):

Thí nghiệm: Các tình nguyện viên khỏe mạnh tiếp xúc với không khí lạnh (4,4°C) trong 15 phút, làm nhiệt độ mô niêm mạc mũi giảm khoảng 5°C.

Cơ chế miễn dịch bẩm sinh bình thường: Khi tiếp xúc với virus, niêm mạc mũi phóng thích hàng tỷ túi ngoại bào (extracellular vesicles – EVs) vào dịch nhầy. Các EV này đóng vai trò như "mục tiêu mồi nhử" (decoy), chứa dày đặc các thụ thể (như ICAM-1, LDLR) để bẫy và vô hiệu hóa virus, đồng thời giải phóng các microRNA kháng virus (như miR-17).

Tác động khi nhiệt độ mũi giảm 5°C:

-Lượng EV tiết ra giảm khoảng 42%.

-Mật độ thụ thể mồi nhử trên bề mặt EV giảm 70–77%.

-Lượng microRNA kháng virus bên trong túi giảm ~25%.

2) Nghiên cứu về cơ chế Interferon phụ thuộc nhiệt độ (ĐH Yale – Công bố 01/2015 trên PNAS):

Thí nghiệm: So sánh phản ứng của tế bào biểu mô đường thở (respiratory epithelium) khi nhiễm Rhinovirus ở nhiệt độ thân nhiệt trung tâm (37°C) so với nhiệt độ khoang mũi (33°C).

Kết quả: Ở 33°C, virus nhân đôi mạnh mẽ hơn đáng kể không phải vì virus thích lạnh hơn, mà do con đường truyền tín hiệu cảm ứng sinh Interferon (Type I và III/ type I and III Interferon signaling) của tế bào ký chủ bị suy giảm rõ rệt ở nhiệt độ thấp.

 

4 Ngừa bệnh cho người già cũng là một cách gián tiếp bảo vệ sức khỏe cho các cháu nhỏ. Đối với người trên 65 tuổi, sự lựa chọn cho mùa cúm 2026–27 khá đơn giản.

1. Fluzone High-Dose Trivalent - chứa 4 lần kháng nguyên HA của vắc-xin liều tiêu chuẩn và có bằng chứng thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy khả năng bảo vệ tốt hơn so với vắc-xin liều tiêu chuẩn ở người lớn tuổi.

2. Flublok Trivalent - một loại vắc-xin protein tái tổ hợp ( recombinant), không được tạo ra bằng cách phát triển vi-rút cúm trong trứng. Nó sử dụng hemagglutinin tái tổ hợp (HA) và tránh các đột biến thích nghi với trứng.

3. Fluad Trivalent - lựa chọn thay thế rất tốt Đây là một loại vắc-xin liều tiêu chuẩn với tá dược (adjuvant ) MF59, giúp tăng cường phản ứng miễn dịch ở người lớn tuổi.

 

Hiện nay, chủng ngừa cúm có thể bằng thuốc chích, và thuốc xịt vào mũi, khỏi chích (như Flumist, có chứa virus còn sống, nhưng đã làm yếu đi).

Các protein H và N thay đổi hàng năm, cho nên nếu không dùng thuốc mới, có thể hệ miễn nhiễm chúng ta không nhận ra chúng được. Hiện nay, người ta đang nghiên cứu vaccine dựa trên protein của virus cúm gọi là protein M2. Protein M2 không thay đổi từ thập niên 1930's đối với virus gây bệnh cúm ở người. Nếu thành công, loại vaccine mới này sẽ hy vọng có hiệu lực năm này qua năm khác (perennial vaccine), không cần chích hàng năm (như seasonal vaccine).

Tuy nhiên, "vắc-xin cúm phổ quát" M2/M2e không thất bại vì khái niệm sai. Nó đã gặp phải vấn đề sinh học là M2e có khả năng miễn dịch kém và khó biến thành sự bảo vệ mạnh mẽ, bền bỉ của con người. Các ứng viên trước đó bị đình trệ trong quá trình phát triển lâm sàng. Khái niệm này hiện đang được xem xét lại với các nền tảng vắc xin mới hơn, bao gồm cả vắc xin M2 do nấm men sản xuất được báo cáo ngày hôm nay.Cùng với việc nhắm mục tiêu M2, họ nhằm mục đích phát triển một hệ thống nhanh chóng, tiết kiệm chi phí hơn để sản xuất ở quy mô lớn mà không cần ấp trứng gà. ⁠ Cách tiếp cận của họ sử dụng men làm bánh (Saccharomyces cerevisiae) để tạo ra các hạt giống virus hiển thị protein M2 trên bề mặt của chúng nhưng không chứa vật liệu virus di truyền gây nhiễm trùng.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những con chuột được tiêm phòng bằng các hạt giống vi rút M2 tinh khiết đã được bảo vệ chống lại sự lây nhiễm từ ba chủng cúm khác nhau. ( Reuters)

(8/26/26)

 

5 Về bệnh nhiễm RSV (Respiratory Syncytial Virus)

Phòng ngừa RSV đã có những thay đổi quan trọng : Đối với trẻ sơ sinh bước vào mùa RSV đầu tiên, AAP khuyến cáo bảo vệ trẻ bằng một trong hai phương pháp: Tiêm vaccine RSV cho người mẹ trong thai kỳ, hoặc cho trẻ dùng kháng thể đơn dòng (monoclonal antibodies) phòng RSV nếu người mẹ không được tiêm vaccine, tiêm quá gần thời điểm sinh, hoặc trẻ không được bảo vệ đầy đủ (trẻ thường sẽ được dùng nirsevimab hoặc clesrovimab).

(Chiến lược cũ dùng palivizumab (Synagis), phải tiêm nhiều lần hàng tháng trong mùa RSV, về cơ bản đã được thay thế bằng các kháng thể tác dụng kéo dài.)

Chiến lược RSV hiện nay có thể hiểu rất đơn giản:

Phòng RSV:

→ Vaccine RSV cho người mẹ hoặc kháng thể đơn dòng cho trẻ.

Nếu trẻ đã mắc RSV:

→ Chủ yếu điều trị hỗ trợ, đặc biệt là bảo đảm thông thoáng đường thở, đủ nước và oxy khi cần.

→ Không dùng thường quy kháng sinh, albuterol hay corticosteroid.

Một điểm rất quan trọng: nirsevimab và clesrovimab không phải thuốc điều trị RSV đang mắc. Chúng là kháng thể thụ động dùng để phòng ngừa nhiễm RSV nặng. Chúng cung cấp sẵn kháng thể chống RSV cho trẻ, khác với vaccine truyền thống kích thích cơ thể tự tạo miễn dịch.

 

 

6 Dưới đây là tóm tắt tình hình liên quan đến sắc lệnh về vắc-xin của Tổng thống Trump.

Nội dung sắc lệnh và định hướng của chính quyền Trump:

-Giảm danh mục vắc-xin đại trà: Đề xuất thu hẹp lịch tiêm chủng định kỳ bắt buộc/khuyến nghị phổ quát từ 17–18 bệnh xuống còn 11 bệnh.

-Tách vắc-xin MMR: Đề xuất tách vắc-xin phối hợp sởi – quai bị – rubella (MMR) thành 3 mũi đơn lẻ tiêm ở các thời điểm khác nhau (khi có nguồn cung ứng). Hiện nay, bệnh sởi ( ban đỏ/measles) đang gia tăng ở Mỹ, một phần do một số phụ huynh nghi ngờ vắc xin ngừa bệnh sởi.

-Tái phân loại viêm gan B và viêm gan A: Loại bỏ khuyến nghị tiêm đại trà cho toàn bộ trẻ sơ sinh/trẻ em đối với viêm gan B (HBV) và viêm gan A, chuyển sang diện "nhóm nguy cơ cao" hoặc dựa trên quyết định lâm sàng cá nhân (shared clinical decision-making).

-Giãn khoảng cách tiêm: Khuyến khích chia nhỏ lịch tiêm thành nhiều lần khám thay vì tiêm nhiều mũi cùng lúc.

Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) cùng Hiệp hội Y tế Công cộng Hoa Kỳ (APHA), Hội Bệnh Truyền nhiễm Hoa Kỳ (IDSA) và Hội Bác sĩ Nội khoa Hoa Kỳ (ACP) đã kiện chống đối sắc lệnh này.

Hiện nay, vắc-xin đơn lẻ cho từng bệnh (sởi, quai bị, rubella riêng biệt) không có sẵn trên thị trường Hoa Kỳ. Quy định tiêm chủng để nhập học thuộc thẩm quyền luật pháp của từng tiểu bang, không bị chi phối trực tiếp bởi sắc lệnh hành pháp liên bang. Các hiệp hội y khoa và hướng dẫn chuyên môn hiện vẫn duy trì lịch tiêm chủng tiêu chuẩn (bao gồm mũi HBV sơ sinh và vắc-xin phối hợp MMR).

Riêng về vắc xin chống COVID, năm nay chưa có quyết định chính thức dứt khoát từ các cơ quan có thẩm quyền; bệnh nhân hay phụ huynh cần bàn cãi với bác sĩ của mình.

 

 

 

Thống-Kê Vào Làng

China 26.5% China
Viet Nam 25.9% Viet Nam
Singapore 15.5% Singapore
United States of America 15.1% United States of America
Italy 5.2% Italy
Germany 2.9% Germany
Brazil 1.8% Brazil
Canada 1.1% Canada

Total:

139

Countries