Giới Thiệu sách “Lịch sử Người Việt Tỵ nạn 1975-2000”
của tác giả Ngô Thị Quý Linh
do Hội Văn Hóa Việt Mỹ (VASCE) xuất bản tại Hoa Kỳ 2025.

Hình 1: Sách dày 504 trang, bìa cứng
Trước đây tôi đã có dịp giới thiệu một số sách của nhà biên khảo Ngô Thị Quý Linh như Việt Nam và Công Cuộc Duy Tân (2019), Phật Giáo Việt Nam (2021), Đường Lối Chính Trị Của Phủ Toàn Quyền Đông Dương (2025). Mỗi cuốn sách của chị đều mang những nét chung: hình bìa trang nhã, màu sắc đẹp và hài hòa; giấy tốt và dày làm nổi bật những hình ảnh, tài liệu phong phú mà chị đã dày công sưu tầm qua nhiều năm, nội dung được viết và trình bày cẩn trọng, hầu như không tìm thấy lỗi chính tả hay tên viết sai.
Năm 2025 kỷ niệm 50 năm Sài Gòn thất thủ và cuốn sách mới nhất của Ngô Thị Quý Linh xuất hiện thật đúng lúc, lúc mà trực tiếp hay gián tiếp bao nhiêu người trong chúng ta ngồi tính sổ một chặng đường đã qua, dài nửa thế kỷ.
Tuy tựa đề ngoài bìa là “Lịch sử Người Việt Tỵ nạn 1975-2000”, trang trong lại giới hạn đề tài vào : “Nền văn hóa của cộng đồng người Việt tỵ nạn 1975-2000”, nghĩa là chỉ nói về 25 năm đầu tiên và giới hạn trong lãnh vực văn hóa, không bàn về chính trị dù là những biến cố văn hóa có tính cách chính trị như vụ ám sát các ký giả báo Văn Nghệ Tiền Phong. 1
Những ai quen thuộc với các tác phẩm của chị Quý Linh sẽ tìm thấy những nét quen thuộc. Sách hầu như không được chia thành chương hay đoạn.
Chị có “ Lời mở đầu “ chừng 10 trang. Sau đó là “Cuộc đời mới” từ trang 16 cho đến trang 466. Phần “ Kết” 6 trang. Cuối cùng là các trang cảm ơn.
Tác giả gắn liền các bài tham khảo và hình ảnh minh họa vào thân bài viết chính thường với font nhỏ hơn, nhưng đôi khi vẫn hơi khó phân biệt bài trích dẫn với bài viết chính. Sách không có mục lục và không có index. Cho nên nếu độc giả muốn “nhảy rào” để tìm hiểu theo tên của một nhân vật, một nơi chốn, một tờ báo hay một hội đoàn nào đó, bạn không thể tra cứu được nếu bạn chưa đọc từ đầu tới cuối và làm dấu những chỗ quan trọng. Mà các sự kiện, các tên tuổi, các thành viên của các hội đoàn được nhắc tới trong cuốn sách dài hơi này tính ra phải hàng ngàn.

Hình 2: Một trong những chi tiết lịch sử thú vị. (trang 20). Ở trại chuyển tiếp Camp Pendleton, California, trẻ em cũng như người lớn đều được phát áo lạnh cùng cỡ với …tài tử gạo cội Mỹ John Wayne.
Điểm này cũng có tác dụng hay của nó, có lẽ tác giả chỉ muốn những độc giả “nghiêm túc”, trải nghiệm cuốn sách như xem một cuốn tiểu thuyết từ đầu tới cuối, xem một cuốn phim trong toàn bộ dòng chảy của nó. Còn không thì thôi. Cho nên độc giả sẽ phải đọc từ đầu tới cuối để có một trải nghiệm toàn bộ, đi từ lúc ban đầu với “tâm thế lưu vong” và nỗi lo “ tự sát văn hóa” cho đến những cố gắng kết tụ lại thành những cộng đồng vững mạnh ở California, vùng Washington DC, hay Texas, có nội lực và tự tin để hội nhập mà không bị đồng hóa, hoà tan vào xã hội tây phương càng ngày càng chấp nhận đa văn hóa ( mặc dù chính sách đương thời của chính quyền Mỹ).

Hình 3: Chân Trời Mới: tờ báo đầu tiên của người Việt tỵ nạn, tháng 5/1975
Độc giả sẽ nhận thấy một số nét riêng tư trong câu chuyện lịch sử chung. Như hình chụp tác giả lúc mới qua Mỹ cùng cháu gái 2 tuổi ở Chicago, hình ảnh bằng bác sĩ do Hội đồng Y khoa Lưu vong cấp cho BS Đỗ Hoàng Ý, phu quân của tác giả. Do trước 1975 là một sinh viên y khoa tại Sài Gòn và chồng là một bác sĩ phẫu thuật mắt, chị đã có rất nhiều tin tức về đời sống và sự thích ứng của các bác sĩ Việt Nam trong nền y khoa Mỹ, Canada. Những bài thơ văn của y giới hải ngoại được trích dẫn khá nhiều suốt chiều dài cuốn sách, kể cả cuốn Across Shining Seas: The Vietnamese Mayflowers of 1975 (BS Đặng Văn Chất và cộng sự) quy tụ bài viết của mấy chục người trong y giới hay những tài liệu mới nhất về sự tái huấn luyện các bác sĩ lúc ban đầu do BS Nông Thế Anh kể lại trong một bài báo rất gần đây.
Và kinh nghiệm của nữ sinh viên Việt được học bổng học tiếng Anh sau đây có lẽ là kinh nghiệm bản thân của tác giả:
“Một vài trường đại học Hoa Ký cho sinh viên Việt ty nạn học bồng, Ngay mùa thu năm 1975, trường Barat College ở Lake Forest, cách thành phố Chicago 30 miles về phía bắc, tặng học bồng cho 22 nữ sinh viên Việt tỵ nạn ở nội trú để học một năm về Anh văn. Sau một năm học Anh văn và thi TOEFL (Test Of English as a Foreign Language) vào mùa xuân, sinh viên dùng điểm thi TOEFL để xin nộp đơn học Đại học. Oberlin College, một đại học tư ở tỉnh Oberlin, tiểu bang Ohio, năm 1976, tặng học bổng toàn phần bốn năm học cho năm sinh viên Việt ty nạn. Sinh viên Việt ty nạn dành thời gian đầu tiên để luyện Anh văn và thi TOEFL. Sau khi có điểm TOEFL thì dùng điểm TOEFL và chứng chỉ Tú tài Việt hoặc giấy chứng nhận đã học ở Đại học Sài Gòn, hoặc Huế, nộp đơn xin vào học Đại học tại Hoa Kỳ” ( trang 85)
Ngoài ra, độc giả cũng sẽ thích thú nhận thấy tác giả Quý Linh không những đã có mặt trong giai đoạn 1975-2000 vì chị ra đi từ lúc ban đầu mà chị cũng đã là một người đã tích cực tham gia trực tiếp vào việc xây dựng nền móng cho đời sống văn hóa của cộng đồng tỵ nạn từ mấy chục năm nay. Ví dụ, năm 1992, nhà xuất bản Ý Linh của chị đã tặng hàng ngàn cuốn sách Tôi Yêu Quê Tôi cho các trẻ em Việt tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á (trang 215).
Cuốn sách “Lịch sử Người Việt Tỵ nạn 1975-2000” bắt đầu bằng một bài thơ tiếng Anh tựa đề “Goodbye” của ái nữ tác giả Đỗ Quý Linh Trân viết vào ngày 30 tháng tư năm 2025 .
Chia tay
Ta rời đi vội vã đến mức
chẳng kịp nói một lời tạm biệt.
Lẽ ra quãng thời gian ấy phải ngắn thôi,
một khúc ngoặt, một khoảng lánh mặt, một thời tạm trú,
ta vẫn luôn nghĩ rồi mình sẽ quay về
ngôi nhà cũ, khu xóm cũ,
vẫn đời sống ấy,
sẽ tiếp tục từ chỗ mình dở dang.
Nhưng rồi, tất cả những gì ta có
chỉ là những ký ức mang theo,
ký ức chứ không phải hình ảnh,
lời nói chứ không phải sách vở,
tri thức, đông cứng lại trong thời gian,
ban đầu như một dấu hiệu nối kết
rằng bạn và tôi, chúng ta đã cùng chịu đựng
những năm tháng như nhau,
giờ đang phủ bụi, xưa cũ, cổ lỗ,
sẽ bị cuốn trôi, bị lấn át
…
Những con đường này ta khắc khoải đặt tên,
Hai Bà Trưng ở Little Saigon,
đã úa vàng theo năm tháng.
Những con đường ấy còn làm được gì cho ta
ngoài nhắc ta nhớ mình đang xa cách đến nhường nào?
Vĩnh biệt, quê hương.
Vĩnh biệt, đất tổ.
Vĩnh biệt, nơi ta đã chôn vùi trái tim mình.
Vĩnh biệt.
Bài thơ “Goodbye” là một tiếng nói trầm lắng mà day dứt về kinh nghiệm lưu vong của người Việt, vừa riêng tư vừa mang sức nặng lịch sử; những hình ảnh “ký ức, không phải ảnh”, “con mình, người dưng với mình” khắc họa rất tinh tế sự đứt gãy giữa các thế hệ và cảm giác mất mát âm thầm nhưng không thể hàn gắn. Chỉ bằng nhịp kể nhỏ, những chi tiết cụ thể như tên đường Hai Bà Trưng ở Little Saigon, đã gợi lên cả một quãng đường tha hương, nơi quá khứ quê nhà và hiện tại xứ người chồng lấn, phai mờ rồi tan biến. Chính vì thế, bài thơ rất thích hợp để mở đầu cho một cuốn sách của người mẹ viết về lịch sử người Việt lưu vong, là lời dạo đầu cảm xúc, đưa người đọc bước vào câu chuyện bằng kinh nghiệm sống động của một thế hệ con cháu, đồng thời gợi ra câu hỏi về căn cước, ký ức và chỗ đứng của cộng đồng Việt nơi đất khách, những chủ đề được nhắc lại sâu hơn trong tác phẩm lịch sử theo sau.
Bài thơ làm tôi nhớ đến bản nhạc của một người Pháp viết nhưng được một người trẻ Việt hát cách đây mấy năm. Bài hát là “Bonjour, Vietnam” với nhịp điệu tha thiết hơn và lạc quan hơn. Thay vì “ Chào Việt nam”, ở đây lại là “ Giã từ” Việt Nam, một cuộc giã từ kéo dài nửa thế kỷ và báo hiệu cho tâm cảnh của những cố gắng bám víu vào quá khứ và xây dựng tương lai mới của người tỵ nạn trên đất mới.
Người viết bài giới thiệu này rời Việt Nam năm cuối năm 1980, sau khi đã sống qua 5 năm dưới chế độ mới: thời quân quản, học tập cải tạo, kinh tế mới, thời “bao cấp” “xếp hàng cả ngày”, thời “ăn độn dài dài”, đổi tiền, vượt biên trả bằng giá hàng chục lượng vàng mỗi người. Nói chung là, như một tác giả người Việt từng gọi tên “Một thời để nhớ”. Và nhớ lại thời đó ở Việt Nam những năm sau 1975, và ngồi đây sau 50 năm, đọc bài thơ “Goodbye” của Đỗ Quý Linh Trân và những tài liệu phong phú và hiện thực của Ngô Thị Quý Linh lại cho một cảm giác là lạ, giống như người gặp cú shock về văn hóa. Thì ra người ở lại sau năm 1975 đã hiểu sai rất nhiều về những người đã “thoát” từ ngày 30 tháng tư.
Sau 30 tháng 4 1975, đối với người ở Việt nam, nhất là người trong trại cải tạo, người ở hải ngoại là những kẻ đã được lên “thiên đàng” hay vùng đất hứa, đã thoát khỏi đói nghèo, nhục nhã, gông cùm, đói khát, và dù họ bất cứ ở đâu, họ vẫn là những con người tự do. Nhưng trong sách chị Quý Linh, trong mấy năm đầu có vẻ như những người “trên thiên đàng” ấy chỉ thấy hụt hẫng, lạc loài:
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
(Nguyễn Đăng Diệm, “Thanh Nam Và Đất Khách”, Văn Học tháng 7-1986, trang 39 sách Lịch Sử Người Việt Tỵ Nạn)
Nhưng đấy chỉ là một cảm giác khoáng qua thôi lúc tôi bắt đầu đọc cuốn sách này. Càng đọc càng đắm mình trong cuộc phiêu lưu “ vĩ đại” và kỳ thú nhưng có phần chua chát của người tỵ nạn đang vừa tìm cách bám víu, tạo cho mình một chân đứng trong xã hội mới, vừa giúp gia đình còn lại ở quê nhà, vừa muốn giữ lại chút gì của nền căn cước, của văn hóa gốc của mình.
Như Linh Trân đã viết:
bởi dòng hải lưu đã đưa ta vượt biển
đến một miền đất xa xôi mở rộng vòng tay
mà chẳng bao giờ thật sự ôm lấy ta,
buộc ta phải cặm cụi tự khoét cho mình một chỗ đứng,
nhìn con cháu mình bén rễ,
nói một thứ tiếng xa lạ,
làm những điều xa lạ,
nghĩ những ý nghĩ xa lạ,
chính con mình, lại hóa người dưng với mình.
Càng cố níu, ta càng mất.
( HVH tạm dịch)
Chính bản thân tác gỉả, sau khi mượn lời của người con gái thi sĩ của mình để mở đầu cuốn sách, lại tránh không bày tỏ tình cảm riêng tư của mình, đúng như thái độ của một nhà biên khảo đích thực. Tác giả chỉ kết luận ngắn ngủi nhưng lạc quan về văn hóa Việt Nam ở hải ngoại:
“Mọi cố gắng và thành công của người Việt ty, nạn trong việc giữ gìn và phát triển văn hóa Việt Nam ở hải ngoại đã đánh tan nỗi lo về "sự tự sát văn hóa" mà luật sư Phạm Kim Vinh đã báo động trong những năm đầu của cuộc sống tỵ nạn.”
Và tác giả đã mượn lời giáo sư Vũ Ký để chấm dứt công trình khảo luận:
"Bảo tồn và phát huy văn hóa Việt nam trong tâm hồn mỗi người Việt ly hương quả là một vấn đề vô cùng cấp thiết, tối ư trọng đại, sinh tử mà mọi người Việt lưu vong không thể nào bỏ qua được. Cầu chúc cho cái lương tri và khôn ngoan của dân tộc Việt hướng dẫn mỗi con Hồng cháu Lạc giờ đây lạc loài xa xứ tạo dựng được sự thành công tất yếu về tư tưởng, về văn hóa để gìn giữ mãi mãi sự sống còn cho bản mệnh tinh thần của đất nước mình, của cộng đồng mình, giữa tính quốc tế đa dạng sôi động của các nền văn hóa xa lạ khác mà chúng ta bắt buộc phải chung đụng lâu ngày trên quả đất, trong một thời điểm lâu dài." (Luận-Cương về Văn-Hóa Việt-Nam)”.
Tuy vậy, trong hai trang sau, ở cuối sách, một bên là hình ảnh của “Chùm khế ngọt trên quê hương hiện tại” và bên kia là “Luống lá lốt trong ”góc vườn quê hương” của tác giả.
“Chùm khế ngọt “ là một cliché được nhà nước Việt Nam tận dụng độc quyền để gợi lòng lưu luyến quê nhà của người tha hương:
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Nhưng…
…Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một Mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người
Ở đây tác giả ngoài quê hương tại Việt Nam, lại có thêm một chùm khế ngọt Texas, một “góc vườn quê hương” riêng, không đúng đường lối lắm, nhưng phải chăng trong tâm tư của mỗi người Việt hải ngoại, ai cũng đang xây dựng một “góc vườn quê hương” của mình với chùm khế ngọt, với luống lá lốt, với những bài thơ, những bài viết, những khúc nhạc, những Little Saigon, những thương xá Eden. Và có lẽ quê hương mới này là thành quả của người Việt tỵ nạn đã ra sức xây dựng trong 25 năm đầu tiên. Ước mong trong tương lai tác giả Quý Linh sẽ hoàn thành tiếp khảo cứu về phần 25 năm kế tiếp lúc chúng ta và con cái chúng ta không còn mang “tâm thế tỵ nạn” nữa mà là những công dân toàn cầu tự tin xây dựng cuộc sống văn minh trong một thế giới tự do và tiến bộ.

Hình 4: “Quê hương mỗi người chỉ một như là chỉ một Mẹ thôi” hay sao?
Hay quê hương là luống lá lốt mà chúng ta đem theo?
Hồ Văn Hiền
Ngày 3 tháng 3 năm 2026
1 Cái chết của ký giả Nguyễn Đạm Phong và của bốn người làm báo Việt ngữ khác tại Hoa Kỳ từ năm 1981 đến 1990, là chủ đề của phóng sự "Terror in Little Saigon" do ký giả A.C. Thompson thực hiện và chiếu trên hệ thống truyền hình PBS vào đầu tháng 11/2015 ( BBC ngày 24 tháng 3 năm 2017).













