"Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông." ** Nguyễn Bá Học **

 

Vai Trò Người Cha Trong Xã Hội Đa Dạng Hiện Nay

 

Trong xã hội truyền thống, người cha đóng vai trò "kẻ kiếm cơm" (bread winner) nhiều hơn là người săn sóc trực tiếp cho con cái.

"Còn cha gót đỏ như son ,
Ðến khi cha chết gót con đen sì"

"Công cha như núi Thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con."

Cái "công" của người cha có vẻ như nặng về đài thọ công của, dạy dỗ ; cái "nghĩa" của người mẹ tự điển Việt-Anh dịch là "deep affection and fervid loyalty", theo thiển ý có thể dịch gọn ở đây là love, nói giản dị là "tình " mẹ, theo nghĩa cao quý nhất của chữ này. Người mẹ có vẻ nặng về trìu mến, hy sinh, che chở, tận tụy trong mọi trường hợp, bằng mọi giá. Do đó Cha chỉ được "kính" nhưng không nhất thiết là gần gủi; trái lại Mẹ thì được "thờ", giữ trong lòng, sùng bái và nhân vật mà mình kêu cứu, cầu khẩn sự hiện diện lúc đau khổ, hoạn nạn.

Tuy nhiên, những nghiên cứu mới đây về khoa thần kinh cho thấy có những biến đổi nhất định trong não bộ cũng như trong hệ nội tiết (endocrine system) của người đàn ông lúc họ trở thành người cha, từ lúc đứa con còn trong bụng mẹ cho đến khi cha con sinh hoạt và tương tác với nhau.(1)

Trở thành cha không chỉ là thay đổi về vai trò xã hội mà còn là một cuộc cải tổ sinh học sâu sắc trong não bộ. Nghiên cứu đã chứng minh rằng, tương tự như người mẹ, não bộ của người cha trải qua quá trình tinh giản cấu trúc: thể tích chất xám ở mạng lưới tâm lý hóa (mentalizing network, phụ trách khả năng hiểu người khác) giảm đi, nhưng đây không phải là sự suy giảm về cơ năng, mà là quá trình tối ưu hóa giúp người cha thấu hiểu và phản ứng nhạy bén hơn với nhu cầu của con cái.(2)

Những biến đổi này đi đôi với sự thay đổi nội tiết tố như testosterone và oxytocin, thúc đẩy sự gắn kết và lòng tận tụy. Đáng chú ý, mức độ thay đổi thần kinh này tỉ lệ thuận với mức độ tham gia chăm sóc con trực tiếp; cha càng gắn kết với trẻ, não bộ càng được "nâng cấp" mạnh mẽ hơn. Về lâu dài, quá trình này còn mang lại lợi ích bảo vệ thần kinh, giúp duy trì sự minh mẫn khi về già, biến việc nuôi dạy con thành một trải nghiệm có lợi cho cả tâm hồn lẫn sức khỏe bộ não.

Trong xã hội mới hiện nay, do nhu cầu kinh tế cũng như cơ hội giáo dục bình đẳng nam nữ, trên quá nửa gia đình ở Mỹ cả hai người cha mẹ đều đi làm, vai trò người đàn ông cứng rắn ít biểu lộ tình cảm (“macho”) đã không còn được đề cao như trước, do đó người cha cũng nên góp phần trực tiếp săn sóc , nâng niu, trìu mến con cái như mẹ: cho bú (sữa bình), thay tả, tắm rửa, tham dự hoạt động văn nghệ, thể thao, vui chơi, nói chuyện, tạo một liên hệ khắn khít ("bonding") với con cái.

Tuy nhiên, dù là hiện nay người mẹ phải gánh vác một số công việc của người cha và người cha phải chia sẻ ít nhiều tính cách "nội trợ" của người mẹ cố hữu, bản chất thái độ và tác dụng của người cha và người mẹ trên đứa con vẫn khác nhau. Người mẹ có khuynh hướng bảo vệ, an ủỉ, kiếm đồ chơi thật nhiều cho con chơi. Người cha thì có vẻ thích dùng chính tay chân, thân thể mình làm đồ chơi cho em bé: làm con bò cho bé cưỡi, lấy chân làm xích đu. Người cha cũng có vẻ thích cho con mình mạo hiểm đôi chút, khám phá những đồ vật, những tình hình mới.

Theo BS Robert Moradi , chuyên về tâm lý trẻ em và thanh niên ở UCLA (3), “người cha giúp cho đứa bé phát triển cá tính; họ dễ để cho bé đi ra khỏi tầm mắt quan sát của mình, và so với người mẹ thì người cha thường để cho con mình bò đi xa gấp đôi người mẹ trước khi ẵm nó lên. Khi em bé đối diện với một trạng huống mới lạ-như một con chó, một người lạ, một đồ chơi mới, do bản năng thì người mẹ xích lại gần con, làm cho bé yên tâm hơn vì có mẹ bên cạnh; người cha thì có khuynh hướng đứng yên, để cho đứa bé tự nó khám phá xem cái tình huống mới đó như thế nào. Một bên làm cho bé yên tâm, dừng sợ hãi, một bên thì thách đố (challenging), cả hai đều góp phần vào sự phát triển về tình cảm của bé. Khảo cứu cho thấy nếu người cha đóng vai trò tích cực, đứa bé ít khóc hơn khi phải tách khỏi cha mẹ hoặc lúc có người lạ "…
"Trẻ con được người cha góp phần săn sóc ít trở thành bạo động hơn (less violent); có chỉ số thông minh cao hơn (better IQ), biết tự kiềm chế hơn (better impulse control), thích ứng xã hội tốt hơn -tất cả mọi yếu tố về sức khỏe tâm thần đều tốt hơn"
"Ít có gì mãnh liệt bằng, mà lại ít được dùng tới như vậy trong xã hội chúng ta (Mỹ), như sự gắn bó thiêng liêng giữa cha và con ." Các nhà tâm lý học nghiên cứu rất nhiều về tác động tâm lý cha-con (“father effect”) trong những thập kỷ gần đây và cho rằng mọi đứa trẻ đều đi tìm kiếm sự hiện diện của người một cha. Bác sĩ Kyle D. Pruett của Yale Child Study Center cho rằng nếu đứa trẻ không thấy mình có một người cha, nó sẻ 'tạo" cho nó một người cha : "Children who can't find their fathers make one up or appropriate one to their liking, whether or not they call him "Daddy"". Nếu không có một người cha "sinh học"(biological father, "cha ruột" ), đứa trẻ cũng sẽ tìm một cha "nuôi", cha tinh thần (từ Anh ngữ: "life father","spiritual father" ở một người đàn ông nào đó. Từ khi ý thức được nhu cầu có người cha cũng như người mẹ, đứa trẻ sẽ "khao khát khôn nguôi" (insatiable craving) sự hiện diện một người cha nếu nó thấy vắng bóng người cha trong gia đình, và có vẻ như sự tìm kiếm này tồn tại suốt đời.

Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây cho thấy trẻ em lớn lên trong gia đình có cả cha lẫn mẹ, đặc biệt là trong một cuộc hôn nhân ổn định, thường có lợi thế hơn về nhiều mặt so với trẻ sống trong hộ đơn thân. Những lợi thế này thể hiện ở sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, thành tích học tập và mức độ an toàn kinh tế của gia đình.

Một nghiên cứu dựa trên dữ liệu KIDA ở Đức (Germany) trong thời đại dịch Covid, giai đoạn 2022–2023 lúc mà các biện pháp cách ly và thiếu thốn các nguồn lực tạo một hoàn cảnh sống khó khăn nhiều stress, cho thấy trẻ em và thanh thiếu niên trong gia đình một cha hay một mẹ có xu hướng gặp nhiều khó khăn hơn về tài chính, điều kiện sống, xung đột gia đình và hỗ trợ học đường. Nghiên cứu này cũng ghi nhận sự chênh lệch rõ rệt về nhu cầu chăm sóc sức khỏe và tâm lý giữa trẻ trong hộ một cha hay mẹ và trẻ trong hộ có đủ hai cha mẹ.(4)

Bên cạnh đó, phần lớn các nghiên cứu gân đây đều đi đến kết luận rằng trẻ em sống cùng cha mẹ sinh học kết hôn liên tục có kết quả tốt hơn về sức khỏe, phát triển tâm lý và giáo dục so với trẻ sống trong các mô hình gia đình không ổn định bằng. Dù mức độ chênh lệch có thể thay đổi tùy bối cảnh xã hội và mức thu nhập, xu hướng chung vẫn cho thấy sự ổn định của gia đình là một yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của trẻ.(5)

Không chỉ ở khía cạnh tình cảm, gia đình có cả cha lẫn mẹ còn thường mang lại mức độ an toàn kinh tế cao hơn. Hai người lớn cùng chia sẻ trách nhiệm tài chính có thể giảm nguy cơ nghèo khó, tăng khả năng đáp ứng nhu cầu học tập, y tế và sinh hoạt của trẻ. Trái lại, gia đình đơn thân thường phải đối mặt với áp lực thu nhập, thời gian và chăm sóc cao hơn, từ đó làm tăng rủi ro kinh tế đối với cả cha mẹ lẫn con cái.

Ngay một tờ báo thiên tả, cấp tiến như The Washington Post gần đây cũng có một bài báo báo động về các gia đình vắng bóng người cha (9/20/23): “Trong cuốn sách mang tên “The Two-Parent Privilege” (tạm dịch: Đặc quyền của gia đình có hai cha mẹ), nhà kinh tế học Melissa S. Kearney thuộc Đại học Maryland đã trình bày những thực tế đáng buồn. Hiện nay, cứ 5 trẻ em Mỹ thì có hơn 1 trẻ sống cùng người mẹ không có bạn đời. Xu hướng này đặc biệt rõ rệt ở những đứa trẻ có mẹ không có bằng đại học. Bốn mươi phần trăm số trẻ này không có được lợi thế từ việc sống trong gia đình có cha mẹ kết hôn hợp pháp. Sự thay đổi này chủ yếu không xuất phát từ ly hôn hay các mối quan hệ chung sống như vợ chồng nhưng không kết hôn, mà do sự gia tăng số lượng các bậc cha mẹ chưa từng kết hôn.
Dù nỗ lực phi thường đến đâu, những người mẹ (hoặc cha) đơn thân cũng rất khó có thể huy động được các nguồn lực — cả về mặt tinh thần lẫn tài chính — tương đương với một gia đình có cả cha và mẹ. Họ có nguy cơ cao rơi vào cảnh nghèo khó và dành ít thời gian hơn cho con cái, khiến những đứa trẻ này phải bắt đầu cuộc sống với nhiều bất lợi. Trẻ em trai dường như chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi thiếu vắng hình ảnh người cha trong gia đình. Chúng ít có khả năng hoàn thành chương trình trung học hoặc tốt nghiệp đại học, nhưng lại có nguy cơ cao bị ngồi tù và sinh con ngoài giá hôn. Ngoài ra, tình trạng này còn gây ra những tác động lan tỏa đến các gia đình xung quanh — một trong những yếu tố dự báo tốt nhất cho khả năng thăng tiến về kinh tế là việc lớn lên trong một khu dân cư có nhiều gia đình trọn vẹn với cả cha và mẹ. Ngày nay, chỉ 30% những người theo quan điểm tự do có trình độ đại học đồng ý rằng việc trẻ em có cả cha và mẹ đã kết hôn là điều quan trọng. Đối với những người thuộc phe cánh tả, việc nói ra điều này có thể bị coi là mang hàm ý liên quan đến chủng tộc, bởi vì các bà mẹ người da đen và gốc Tây Ban Nha thường có xu hướng nuôi con một mình mà không có hôn thú.”(4)

Điều này không có nghĩa là mọi gia đình đơn thân đều bất lợi, hay mọi gia đình có đủ cha mẹ đều tự động bảo đảm kết quả tốt cho trẻ. Yếu tố quyết định vẫn là phẩm chất quan hệ giữa cha mẹ, mức độ ổn định của gia đình, sự gắn bó với con cái và khả năng cung cấp nguồn lực vật chất, tinh thần cần thiết. Tuy vậy, xét trên bình diện thống kê, nhiều nghiên cứu vẫn cho thấy gia đình hai cha mẹ ổn định thường tạo ra môi trường nuôi dưỡng an toàn và hiệu quả hơn.

Cho nên, dù các vị "feminist" cực đoan (“nữ quyền” chủ trương đàn bà phải độc lập về mọi mặt không cần đến vai trò của người đàn ông) lắm khi cho chúng ta có cảm tưởng người đàn bà có thể thụ thai, sinh con, nuôi con khôn lớn mà khỏi cần đến một ông chồng trong gia đình, các nghiên cứu tâm lý vẫn xác nhận rằng vai trò người cha vẫn độc đáo như vai trò người mẹ trong sự phát triển quân bình của đứa con. Do đó, dù các "đấng mày râu" có quan trọng, dọc ngang bao nhiêu trong xã hội, con cái của quí vị cũng rất cần đến tình thương, sự săn sóc, sự trìu mến, sự dẫn dắt và thì giờ của quí vị như thường.

BS Hồ Văn Hiền
Ngày 18 tháng 6 năm 2026
(Cập nhật bài viết năm 2013)

Chú thích và tham khảo:
1) https://www.washingtonpost.com/wellness/2026/06/18/surprising-science-how-fatherhood-changes-brain/
2) Mentalizing (thường được dịch là "khả năng thấu hiểu tâm trí") là khả năng suy luận và nắm bắt được các trạng thái tinh thần—như suy nghĩ, cảm xúc, mong muốn, ý định hay niềm tin—của chính mình và của người khác. Nói một cách đơn giản, đó là chiếc "kính lúp" tâm lý giúp bạn giải mã hành vi của người xung quanh. Thay vì chỉ nhìn thấy những gì họ làm, bạn hiểu được tại sao họ lại làm như vậy. Ví dụ thực tế: Khi một người cha thấy con mình khóc, khả năng mentalizing giúp ông không chỉ nghe thấy tiếng ồn, mà còn suy luận được: "Con đang khóc vì có lẽ bé đang đói hoặc mệt". Đây là nền tảng của sự đồng cảm, giúp con người kết nối xã hội và nuôi dạy con cái hiệu quả hơn. Việc tổ chức lại cấu trúc này là điều cho phép cha mẹ mới trở nên nhạy bén hơn với nhu cầu của con cái. Việc giảm khối lượng thực sự của chất xám có mối tương quan tích cực với lượng thời gian người cha dành cho trẻ sơ sinh và mức độ gắn kết của người cha với đứa trẻ. Về cơ bản, khi mạng lưới trở nên hợp lý hơn, khả năng dự đoán và đáp ứng nhu cầu của con mình của người cha sẽ được cải thiện.
3) Newsweek 1997
4) [Social situation, health, and health behavior of children and adolescents in one-parent households at the end of the COVID-19 pandemic: Results of the KIDA study 2022-2023]
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38995360/
5) Comparing Children’s Behavior Problems in Biological Married, Biological Cohabitating, and Stepmother Families in the UK; M Rachél Hveem, Samuel C M Faulconer, Mikaela J Dufur
https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC9779363/?utm_source=perplexity
6) Megan McArdle: Children will benefit if we face this fact: Married parents are ideal
https://www.washingtonpost.com/opinions/2023/09/20/married-parents-ideal-children/

 

Thống-Kê Vào Làng

Viet Nam 28.2% Viet Nam
China 22.8% China
Singapore 17.9% Singapore
United States of America 13.2% United States of America
Italy 5.4% Italy
Germany 3.3% Germany
Brazil 1.9% Brazil
Canada 1.2% Canada

Total:

135

Countries