"Quân lính cốt hòa-thuận, không cốt đông; cốt tinh-nhuệ, không cốt nhiều. Người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm-dẻo, chứ không lấy mạnh đè yếu, nhiều hiếp ít." ** Quang-Trung **

 

Chương trình Văn Hóa Việt đài Saigon Houston
Thứ Năm 25-6-2026

BS. Hồ Văn Hiền trả lời phỏng vấn
Đề tài: TÂN NHO SĨ: DI SẢN VÀ KỶ NGUYÊN SỐ

Thưa quý thính giả,
Đây là chương trình Văn Hóa Việt do Quý Linh phụ trách mỗi tháng một lần trên đài Saigon Houston.
Hôm nay chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu BS. Hồ Văn Hiền sẽ trình bày một vấn đề văn hóa qua đề tài: TÂN NHO SĨ: DI SẢN VÀ KỶ NGUYÊN SỐ
Kính chào BS. Hồ Văn Hiền.
Xin mời BS. Hiền lên tiếng chào quý thính giả của đài SGH.

BS. Hiền: Kính chào quý thính giả của đài Saigon Houston và chị Quý Linh. Tôi là Hồ Văn Hiền từ vùng Washington D.C.

Kính chào BS. Hiền.
Kính chào quý thính giả.
Thưa quý thính giả, chúng tôi xin được có đôi lời giới thiệu về BS. Hồ Văn Hiền.
BS. Hiền là một diễn giả kỳ cựu của chương trình Văn Hóa Việt từ năm 2013. BS. Hiền là bác sĩ nhi khoa hành nghề tại Virginia. Hiện nay ông đã về hưu, nhưng là một học giả yêu mến văn hóa Việt Nam và đã có nhiều bài biên soạn về văn hóa và lịch sử Việt Nam. BS. Hiền là đồng tác giả quyển VietNam History với BS. Đặng Văn Chất. Sách viết bằng tiếng Anh được phát hành trên Amazon và lưu trữ tại Library of Congress.
Quyển sách Người Việt Hải Ngoại Sau 50 Năm là tác phẩm mới nhất của BS. Hiền được phát hành đầu năm 2026. Sách được ấn hành bằng hai tiếng Anh và Việt.
Ngoài ra BS. Hiền còn sáng lập trang web bshien.org trong đó quý độc giả có thể đọc nhiều bài viết của BS. Hiền về y khoa và văn hóa lịch sử.
Thưa quý thính giả, sau đây chúng tôi xin bắt đầu chương trình hôm nay với đề tài TÂN NHO SĨ: DI SẢN VÀ KỶ NGUYÊN SỐ.

Quý Linh - 1: Thưa quý thính giả, có lẽ gần cả trăm năm nay giới nho sĩ không còn nữa, nhất là với khoa thi đình cuối cùng do triều đình nhà Nguyễn tổ chức năm 1919. Do đó, trước khi đi sâu vào đề tài “Tân Nho Sĩ”, một danh từ nghe rất mới lạ, xin BS. Hồ Văn Hiền cho định nghĩa của chữ “nho sĩ”. Xin mời anh.

BS. Hiền: Nho sĩ (Confucian scholar) là tầng lớp trí thức tinh hoa trong xã hội Đông Á phong kiến, được hình thành và tuyển chọn thông qua hệ thống Khoa cử (Civil Service Examination).

Trong dòng chảy lịch sử và kinh tế của Đông Á, một hiện tượng nhân chủng học và xã hội học thú vị đang dần lộ diện: sự hội tụ giữa hệ thống giáo dục khắc nghiệt, nền kinh tế tập trung vào STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học) đi đến sự ra đời gần đây của trí tuệ nhân tạo (AI), và sự tập trung các đặc điểm thần kinh đa dạng (neurodivergence), đặc biệt là phổ tự kỷ (ASD). Từ những kỳ thi khoa cử nghìn năm trước đến nền kinh tế AI ngày nay, các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Việt Nam đang chứng kiến một quá trình "sàng lọc" trí tuệ độc đáo. Những nho sĩ của hệ thống khoa cử Á Đông và Việt Nam ngày nay tôi xin gọi họ là các “tân nho sĩ “.

Hệ thống khoa cử: Bộ lọc "Hệ thống hóa" nghìn năm

Trong hơn một thiên niên kỷ, các quốc gia thuộc vòng cung văn hóa Khổng giáo đã duy trì hệ thống khoa cử (Keju) để tuyển chọn quan lại. Tại Việt Nam, từ khoa thi đầu tiên thời Lý (1075) đến khoa thi cuối cùng thời Nguyễn (1919), việc học tập đòi hỏi sự tập trung cực độ, khả năng ghi nhớ hàng triệu chữ Hán và tuân thủ các quy tắc đối chiếu nghiêm ngặt.
Các nhà tâm lý học tiến hóa, tiêu biểu là Simon Baron-Cohen với thuyết "Phối ngẫu chọn lọc" (Assortative Mating), cho rằng những cá nhân có tư duy "hệ thống hóa" cao (high systemizing)—một đặc điểm thường thấy ở phổ tự kỷ—có ưu thế vượt trội trong các môi trường đòi hỏi sự lặp lại, quy tắc và tập trung sâu. Qua nhiều thế kỷ, tầng lớp sĩ phu và quan lại được tuyển chọn qua thi cử đã tạo thành một nhóm tinh hoa có xu hướng kết hôn với nhau, từ đó vô tình tập trung các biến thể gen liên quan đến khả năng nhận diện quy tắc và sự tập trung cao độ trong quần thể dân cư.
Như vậy, suốt một thiên niên kỷ, hệ thống này không chỉ là công cụ tuyển chọn quan lại mà còn hoạt động như một "bộ lọc sinh học" (biological filter), vô tình tập trung hóa một kiểu hình nhận thức đặc biệt: những người có trí nhớ siêu phàm và khả năng hệ thống hóa (systemizing) cực cao. Họ là những người nắm giữ tri thức kinh điển, đóng vai trò là "bộ khung" vận hành bộ máy nhà nước và duy trì trật tự xã hội dựa trên các nguyên tắc của Nho giáo.

Quý Linh - 2: Thưa anh, xin anh cho biết trong việc học, nho sĩ đời xưa trau giồi kiến thức bằng những sách vở nào?

BS. Hiền: Phương pháp học của nho sĩ xưa tập trung vào sự lặp lại, quy tắc và sự tập trung sâu (deep focus). Để vượt qua các kỳ thi, một sĩ tử phải ghi nhớ nằm lòng hàng vạn chữ trong Tứ Thư (Four Books) và Ngũ Kinh (Five Classics). Việc dành hàng chục năm "dùi mài kinh sử" trong thư phòng biệt lập, xa rời các tương tác xã hội để theo đuổi sự hoàn hảo trong từng nét bút hay từng vế đối chính là môi trường lý tưởng cho những người có xu hướng siêu tập trung (hyper-focus). Mục đích tối thượng là để xem học trò có thuộc và hiểu rõ Kinh Truyện (classics) hay không thông qua việc giải thích những ý nghĩa uẩn súc trong sách.

Việc học của các nho sĩ đời xưa không chỉ là việc tích lũy kiến thức mà còn là quá trình “tu thân” để trở thành người quân tử. Hệ thống sách vở của họ rất quy củ, tập trung chủ yếu vào kho tàng kinh điển của Nho gia.

Tuy nhiên nội dung học tập tập trung vào Tứ Thư, Ngũ Kinh, lịch sử và văn chương (phú, văn tế, kinh nghĩa). Khoa học tự nhiên hầu như không được chú trọng.

Những điểm khác biệt mang tính đặc thù của Việt Nam

Chữ Nôm: Dù thi cử dùng chữ Hán, nhưng người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi chép văn hóa dân gian. Một số nho sĩ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đã dùng chữ Nôm để tạo nên những kiệt tác văn chương, điều mà Trung Hoa không có.
Tinh thần "Tôn sư trọng đạo": Ở Việt Nam, vị thế thầy đồ trong làng xã cực kỳ được tôn kính, đôi khi ngang hàng hoặc cao hơn cả chính quyền địa phương về mặt tinh thần.
Tính thực dụng của khoa cử: Tại Việt Nam, thi cử là con đường gần như duy nhất để một người bình dân vươn lên tầng lớp thống trị (tư tưởng "Học để làm quan").

Tóm lại, hệ thống giáo dục Việt Nam xưa là một bản sao có chọn lọc của Trung Hoa. Tuy nhiên, nó đã được "Việt hóa" để phù hợp với quy mô quốc gia nhỏ hơn và tinh thần tự tôn dân tộc. Giáo dục thời đó không chỉ dạy kiến thức, mà quan trọng nhất là dạy “đạo làm người”.

Quý Linh - 3: Cảm ơn anh trình bày về việc học thời quân chủ và mục đích của giáo dục thời xưa. Người Việt thường hay nói: Học tài thi phận, cho thấy là việc học đời xưa rất khó khăn, gian nan, mà không có mấy người được bảng vàng bia đá. Xin anh cho biết sơ lược về các kỳ thi chính là thi Hương, thi Hội, thi Đình như thế nào.

BS. Hiền: Hệ thống Khoa cử được tổ chức theo các cấp bậc nghiêm ngặt để sàng lọc tài năng:

  • Thi Hương (Regional Exam): Kỳ thi cấp địa phương/liên tỉnh để tuyển chọn Hương cống (sau gọi là Cử nhân).
  • Thi Hội (National Exam): Kỳ thi cấp quốc gia tổ chức tại kinh đô dành cho những người đã đỗ Thi Hương.
  • Thi Đình (Court Exam): Kỳ thi cao nhất tổ chức tại điện nhà vua để phân định thứ hạng cao thấp của các Tiến sĩ.

Sự thành bại trong các kỳ thi này không dựa trên sự sáng tạo tự do mà dựa trên khả năng vận hành trong một hệ thống luật lệ cực kỳ khắt khe của trường thi.
Khoa cử Việt Nam là một hệ thống tuyển chọn nhân tài cực kỳ nghiêm ngặt và công phu, kéo dài từ thời nhà Lý (1075) đến tận đầu thế kỷ XX (1919).

Kỳ thi cuối cùng trong lịch sử Việt Nam diễn ra vào năm 1919 dưới thời vua Khải Định, đánh dấu sự kết thúc của một kỷ nguyên giáo dục Hán học kéo dài gần nghìn năm.

Quý Linh - 4: Thưa anh, tôi có đọc về những thể văn dùng trong các khoa thi ngày xưa, thấy các lối văn ấy phức tạp, cũng phải luyện tập quen mới viết được. Thí sinh không dùng lối văn xuôi như ngày nay hay là thi kiểu trắc nghiệm đánh số hay khoanh tròn vào câu đúng. Xin anh cho biết những thể văn nào thường được dùng trong các khoa thi?

BS. Hiền: Các khoa thi sử dụng những thể văn đòi hỏi khả năng hệ thống hóa ở mức độ cao nhất:

  • Kinh nghĩa (Classic interpretation): Giải thích rộng ra những chỗ uẩn súc trong một câu kinh sách mà quan trường chọn làm đầu đề.
  • Văn biền ngẫu (Parallel prose): Lối văn có các vế đối nhau nhưng không có vần (biền nghĩa là hai con ngựa chạy song đôi).
  • Văn Bát cổ (Eight-legged essay, Baguwen, 八股文, Hán‑Việt: bát cổ văn): Một lối văn gồm 8 đoạn (bát cổ = 8 bắp vế), trong đó các đoạn 4, 5, 6, 7 đều có hai vế đối nhau. Phạm Đình Hổ nhận định rằng nếu không phải người học quán xuyến cả Kinh Truyện thì không thể hạ bút viết được lối văn này. Nó không phải là “văn sách”: văn sách (vấn đáp về thời sự, chính trị) là một loại bài thi khác, cũng trong khoa cử nhưng mục đích và kết cấu khác với bát cổ văn.

Quý Linh - 5: Thưa anh, chúng ta được biết là các sĩ tử thành công được bổ dụng vào các chức vụ trong triều đình, còn những người không đỗ đạt thường về dạy học ở làng và được gọi là “ông đồ”. Thế thì tại sao lại còn có danh từ “ông đồ gàn” ?

BS. Hiền: Như chúng ta đã bàn trước đây, ở Việt Nam nói riêng và Đông Á nói chung, trong những thế kỷ qua có sự hội tụ giữa một hệ thống giáo dục khắc nghiệt và sự tập trung các đặc điểm thần kinh đa dạng (neurodivergence), đặc biệt là những nét của phổ tự kỷ (ASD) như trí nhớ siêu phàm, khả năng tập trung cao độ và kém khả năng thay đổi để thích ứng với xã hội; và mới đây hơn nền kinh tế tập trung vào STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học). Cùng với những đặc điểm ấy, nổi trội hơn là một cách tư duy, suy nghĩ nặng phần nhị nguyên, hơi khác thường, đen là đen, trắng là trắng, không có phần xám, dùng logic để suy luận kể cả trong những câu hỏi về đạo đức thường đòi hỏi một sự nhạy bén về cảm xúc, nhất là về cảm xúc đối với hoàn cảnh của người khác, mà chúng ta gọi là đồng cảm hay “empathy”. Bởi vậy, trong tôn giáo, Chúa thì dạy hãy thương người khác, nhưng Khổng tử thì dạy chúng ta cái gì mình không muốn người ta làm cho mình thì mình đừng làm cho người khác, một cách lý giải luân lý hay đạo đức tại sao đừng hại hay ác với người khác.
Tôi mạn phép dùng từ "ông đồ gàn" (The rigid scholar), không có mục đích bất kính, mà để mô tả một cách nôm na sự trung thành tuyệt đối của một số nhà nho với các nguyên tắc đạo đức không phải qua đồng cảm, qua tình thương đồng loại có tính cách tôn giáo, mà đã được "lập trình" (programmed) qua kinh điển, và thái độ của họ có tính cách khác thường, lập dị.
Theo Việt nam Đại Từ Điển (Nguyễn Như Ý Chủ biên):

gàn (động từ): khuyên hoặc can ngăn không làm việc đã định. Vd: Cô ấy thích đi thì anh đừng gàn.
Gàn (tính từ): [Người] có tính ương dở, trái lẽ thường. Vd: Người gàn, tính gàn.
Gàn gàn: ( có mức độ giảm thiểu) gàn (Nó cũng hơi lập dị và gàn gàn)


"Gàn" ở đây không đơn thuần là bướng bỉnh, mà là một sự "kém linh hoạt" (inflexibility) trong việc tham gia vào các trò chơi chính trị khéo léo hay các thỏa hiệp xã hội mang tính thực dụng. Khi một nho sĩ không thể (hoặc không muốn) uốn mình theo thực tế đầy rẫy sự thỏa hiệp, họ bị xã hội coi là "gàn", nhưng thực chất có thể xem đó là sự bảo vệ sĩ khí của người trí thức.

Chúng ta có thể nhắc đến tính gàn bướng của Galileo với câu “Nhưng trái đất vẫn quay” và của nhà triết học Socrates: Câu nói nổi tiếng "Eppur si muove" (Nhưng nó vẫn quay) được cho là lời tuyên bố đầy thách thức của Galileo Galilei sau khi ông bị Tòa án Dị giáo ép buộc phải từ bỏ thuyết Nhật tâm (mặt trời là trung tâm; heliocentrism) vào năm 1633. Vào thế kỷ 17, Giáo hội Công giáo ủng hộ thuyết “địa tâm” (Trái đất đứng yên ở trung tâm vũ trụ; geocentrism). Việc Galileo khẳng định trái đất quay quanh mặt trời bị coi là đi ngược lại với Kinh thánh và là một sự dị giáo.
Dù phải quỳ xuống và đọc lời sám hối để tránh án tử hình (ông bị kết án tù chung thân tại gia), Galileo hiểu rằng các quy luật của tự nhiên không thay đổi dựa trên niềm tin của con người hay phán quyết của tòa án.

Triết gia Socrates thường được mô tả là một trong những nhân vật "lạ lùng" nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại mà cũng là một trong những người ảnh hưởng nhất tới tư tưởng phương tây. Theo tiêu chuẩn của người dân thành Athens thời bấy giờ, Socrates cực kỳ khác người. Ông thường đi chân đất, mặc một bộ áo choàng cũ kỹ quanh năm và không bao giờ tắm rửa chải chuốt theo phong cách của các quý tộc. Ông có thể đứng im một chỗ suốt nhiều giờ (thậm chí cả ngày đêm) để suy ngẫm về một ý tưởng, mặc kệ thế giới xung quanh đang diễn ra thế nào. Trong khi mọi người mải mê tìm kiếm danh vọng và tiền tài, Socrates lại cho rằng "người giàu nhất là người biết đủ với ít nhất" (tương tự như triết lý “tri túc” của phương Đông).

Neurodivergent ("đa dạng thần kinh" hoặc "khác biệt thần kinh") là một thuật ngữ dùng để mô tả những người có não bộ phát triển và hoạt động theo cách khác biệt so với số đông (gọi là neurotypical - người có hệ thần kinh điển hình). Đây không phải là một căn bệnh hay một dạng khuyết tật cần được "chữa khỏi", mà đơn giản là một sự biến đổi tự nhiên trong cấu trúc và chức năng của não bộ con người. Từ này bao gồm: phổ tự kỷ (autism / ASD): khác biệt trong cách giao tiếp, tương tác xã hội và xử lý thông tin cảm giác; chứng tăng động giảm chú ý (ADHD): ảnh hưởng đến khả năng tập trung, kiểm soát xung động và điều chỉnh mức năng lượng; chứng khó đọc (dyslexia): gặp khó khăn trong việc đọc, đánh vần hoặc xử lý ngôn ngữ viết dù trí tuệ hoàn toàn bình thường; và một số chứng khác.

Socrates có phải là người "thần kinh đa dạng" (neurodivergent)?
Mặc dù khái niệm "neurodivergent" là một thuật ngữ tâm lý học hiện đại, nhưng nhiều nhà nghiên cứu ngày nay khi nhìn lại các ghi chép của Plato đã đặt ra giả thuyết này:

  • Trạng thái "đứng hình" (catatonic states): Việc ông đứng bất động trong thời gian dài có thể là biểu hiện của sự tập trung cực độ (hyperfocus) hoặc một trạng thái thần kinh đặc biệt.
  • Tiếng nói nội tâm (daimonion): Socrates thường nhắc đến một "tiếng nói tâm linh" nhắc nhở ông không được làm điều gì đó. Ngày nay, điều này có thể được giải thích dưới góc độ tâm thần học hoặc đơn giản là một lương tâm cực kỳ nhạy bén.
  • Kỹ năng xã hội: Cách ông liên tục đặt câu hỏi (phương pháp Socratic) đôi khi bị coi là thiếu nhạy cảm về mặt xã hội, khiến đối phương cảm thấy bị dồn vào đường cùng và tức giận. Socrates là một "Người gàn"?
    Trong tiếng Việt, từ "gàn" hay "gàn dở" thường chỉ những người bướng bỉnh, làm ngược lại ý muốn của số đông một cách khó hiểu.

Socrates hoàn toàn ăn khớp với mô tả này:

  • Con ruồi trâu (The Gadfly): Chính Socrates tự ví mình là một con ruồi trâu chuyên đi châm chích vào "con ngựa béo tốt nhưng chậm chạp" là thành phố Athens để thức tỉnh nó.
  • Sự bướng bỉnh vì chân lý: Ngay cả khi đối mặt với án tử hình, ông vẫn từ chối xin lỗi hay thay đổi cách sống. Ông thà uống thuốc độc còn hơn phải im lặng và ngừng triết lý. Đó chính là cái "gàn" của một bậc thánh nhân – cái gàn vì đức tin và sự thật.

Quý Linh - 6: Thưa anh, danh từ “anh đồ gàn” hay “thầy đồ gàn” khá phổ thông trong văn hóa Việt Nam, nhưng có thể danh từ này chỉ xuất hiện khi giáo dục Việt Nam đổi qua tân học theo phương Tây. Những người tân học mới phê bình các thầy đồ của xã hội cũ là “thầy đồ gàn”, cũng có thể vì các thầy đồ không muốn thay đổi sĩ phong sĩ khí của họ, hay là nói theo tiếng thông thường là không biết theo thời. Xin mời anh nói về hiện tượng “ông đồ gàn” qua nhãn quan văn hóa Việt Nam.

BS. Hiền: Trong văn hóa Việt Nam, "ông đồ gàn" là một sản phẩm độc đáo của hệ thống Khoa cử. Hình ảnh này đại diện cho sự chính trực đến mức cực đoan (extreme integrity).

  • Sĩ khí: Sự "gàn" chính là khí tiết; họ thà chịu đói, chịu khổ, thậm chí chịu cực hình để bảo vệ sự thực và di sản chữ nghĩa của mình.
  • Cao Bá Quát: Ông là minh chứng rực rỡ cho kiểu hình này. Với trí nhớ đặc biệt và sự tự tin vào "bồ chữ" của mình (ông tự nhận chiếm 2 trong 4 bồ chữ của thiên hạ), Cao Bá Quát thể hiện sự phản kháng của một bộ óc quá thông minh đối với một hệ thống lỗi thời. Quyết định dùng mực đỏ sửa bài phạm húy cho thí sinh hay lãnh đạo khởi nghĩa chống lại triều đình vua Tự Đức vào năm 1854 đều xuất phát từ logic công bằng tuyệt đối, bất chấp việc bị tru di tam tộc.

Một ví dụ khác của sử Trung Hoa có lẽ nêu rõ hơn sự “gàn bướng” này, mà chúng ta cũng nên gọi là sĩ khí với sự kính trọng cần thiết:
Câu chuyện về Tư Mã Thiên (Sima Qian), tác giả của bộ Sử Ký (Records of the Grand Historian), là một minh chứng hùng hồn cho sự kiên định với sự thật và khí tiết của một người trí thức, sẵn sàng hy sinh danh dự cá nhân để bảo vệ di sản chữ nghĩa:

Bi kịch của lòng chính trực

  • Sự kiện Lý Lăng: Năm 99 TCN, khi tướng Lý Lăng (General Li Ling) đầu hàng quân Hung Nô sau một cuộc chiến khốc liệt, Hoàng đế và toàn bộ quan lại trong triều đều lên án ông là kẻ phản bội.
  • Người duy nhất bênh vực: Tư Mã Thiên là người duy nhất đứng ra bênh vực Lý Lăng, một người mà ông thậm chí chưa bao giờ là bạn nhưng lại rất kính trọng vì tài năng.
  • Cơn thịnh nộ của Hoàng đế: Hoàng đế Hán Vũ Đế (Emperor Wu) cho rằng hành động bênh vực này là một sự công kích trực tiếp nhắm vào thân tộc của mình (là cậu của quý phi của Hoàng đế) và đã kết án tử hình Tư Mã Thiên.

Vào thời đại đó, án tử hình có thể được giảm nhẹ thông qua hai cách: nộp một khoản tiền lớn hoặc chịu hình phạt thiến (castration).

  • Bất lực về tài chính: Tư Mã Thiên không có đủ tiền để chuộc lại "tội" của mình.
  • Quyết định đau đớn: Thay vì chọn cái chết để bảo toàn danh tiết theo cách thông thường của các nhà nho, ông đã chọn hình phạt thiến và bị tù ba năm.
  • Mục đích tối thượng: Ông chấp nhận sống nhục làm hoạn quan (eunuch) không phải vì ham sống sợ chết, mà để hoàn tất cuốn Sử Ký của mình. Đối với ông, dữ liệu lịch sử và sự nhất quán của sự thật quan trọng hơn danh dự cá nhân hay sự toàn vẹn của thân thể.

Hành động của Tư Mã Thiên là biểu hiện rực rỡ nhất của việc coi "Nghĩa" (Righteousness) là một “hằng số logic” (logical constant) không thể thương lượng.

  • Chính trực cực đoan: Sự "kém linh hoạt" này, vốn là một thách thức trong giao tiếp xã hội, lại trở thành "sĩ khí" (intellectual spirit) của người trí thức.
  • Kẻ phản kháng (Rebel): Ông thà chịu nhục chứ không chịu đổi chữ, biến mình thành một "kẻ phản kháng" đối với một xã hội thực dụng và đầy rẫy sự thỏa hiệp.

Quý Linh - 7: Qua tất cả những gì anh đã trình bày, xin anh cho biết yếu tố nào quan trọng nhất đối với “ông đồ gàn”?

BS. Hiền: Đối với kiểu nho sĩ này, có thể thấy thế giới được nhìn khá rõ qua cặp đối lập Nghĩa (義 - righteousness) và Lợi (利 - profit). Trong đó, Nghĩa thường được đặt ở vị trí ưu tiên, như một chuẩn mực đạo đức chi phối cách đánh giá đúng - sai, còn Lợi chỉ được chấp nhận khi không làm tổn hại đến nguyên tắc.
Vì vậy, họ thường dè dặt với chủ nghĩa thực dụng và không dễ chấp nhận sự linh hoạt quá mức trong ứng xử chính trị hay xã hội. So với một người sẵn sàng điều chỉnh để đạt mục tiêu, “ông đồ gàn” có xu hướng giữ nguyên tắc đến mức cứng rắn. Chính nét ấy khiến họ dễ trở thành những người bảo vệ đạo lý, nhưng cũng khiến họ khó thích ứng với môi trường nhiều thỏa hiệp.

Quý Linh - 8: Để giúp hiểu thêm về hình ảnh “ông đồ gàn”, xin anh cho một ví dụ tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam.

BS. Hiền:Trong truyền thống Nho học, Nghĩa và Lợi là một cặp khái niệm quan trọng để hiểu quan niệm về người quân tử. Nghĩa là nền tảng của đạo làm người, còn Lợi chỉ thực sự có giá trị khi phù hợp với đạo lý chung. Khi lợi ích riêng mâu thuẫn với chuẩn mực đạo đức, người quân tử thường đặt nghĩa lên trên lợi.
Chu Văn An (1292-1370) là một trường hợp tiêu biểu thường được nhắc đến trong lịch sử Việt Nam. Ông được ghi nhớ như một nho sĩ có khí tiết, đề cao sự ngay thẳng và chính trực. Nếu dùng một số cách diễn đạt hiện đại, có thể xem ông như một nguyên mẫu (archetype) của tinh thần đặt đạo lý lên trên sự thuận tiện, nhưng cần hiểu đây chỉ là một cách đọc tương đối, không nên đồng nhất hoàn toàn với hoàn cảnh lịch sử thời Trần.
Việc ông từ chối gắn bó sâu với quan trường và chọn con đường dạy học có thể được nhìn như một lựa chọn ưu tiên cho giáo hóa và đạo đức. Còn Thất trảm sớ, nếu diễn giải theo ngôn ngữ hiện đại, có thể xem như một lời cảnh báo mạnh mẽ về sự suy thoái trong triều chính. Qua đó, hình ảnh Chu Văn An thường được dùng để minh họa cho lý tưởng nho sĩ giữ vững chính trực trước thực trạng quyền lực.

Quý Linh - 9: Lúc đầu chúng tôi có nói là khoa thi đình cuối cùng được tổ chức năm 1919. Như vậy Nho học chấm dứt vào khoảng đầu thế kỷ thứ 20, đến nay đã hơn một trăm năm. Việc chấm dứt một hệ thống giáo dục (nền giáo dục Nho học) trải qua cả 700 năm để chuyển sang một hệ thống giáo dục mới chắc chắn đặt ra nhiều vấn đề, nhất là tâm lý của người đi học. Xin anh trình bày sơ lược hoàn cảnh mà các nho sĩ phải trải qua khi người Pháp đặt học chế mới và khi có phong trào Cần Vương.

BS. Hiền: Khi thực dân Pháp tràn vào, giai cấp nho sĩ rơi vào cuộc khủng hoảng "lệch pha tiến hóa" (mismatch) và một số sĩ phu phê phán nặng nề chế độ học và thi cũ.
Nhận định của Ngô Tất Tố và Phan Khôi:
Hai học giả này thuộc thế hệ chứng kiến sự giao thoa giữa Hán học và Tây học, họ có cái nhìn rất sắc sảo về lối học cũ:

Ngô Tất Tố: Cái nhìn châm biếm và xót xa
Trong tác phẩm Lều Chõng, Ngô Tất Tố đã lột trần sự vô bổ của lối học chỉ cốt để đi thi:

  • Ông cho rằng đó là lối học "tầm chương trích cú" (tìm chương, trích câu). Sĩ tử tốn cả đời chỉ để học cách làm văn sao cho đúng khuôn mẫu của triều đình hơn là tư duy độc lập.
  • Học thuộc lòng biến con người thành những "cỗ máy chữ", biết rất nhiều chữ nghĩa thánh hiền nhưng khi ra làm quan lại lúng túng trước thực tiễn xã hội. Phan Khôi: Sự phê phán tư duy nô lệ

Phan Khôi vốn là người có tư tưởng duy tân mạnh mẽ, ông công kích lối học này ở các điểm:

  • Tính thiếu sáng tạo: Ông cho rằng lối học cũ chỉ biết "nhai lại" những gì người xưa đã nói. Người học không dám phản biện, không dám có ý kiến riêng vì sợ phạm húy hoặc sai kinh điển.
  • Lối học từ chương: Phan Khôi gọi đó là lối học làm cho trí tuệ con người bị xơ cứng. Ông nhấn mạnh rằng việc quá chú trọng vào học thuộc lòng đã triệt tiêu khả năng quan sát và phân tích khoa học của người Việt thời bấy giờ.

"Cái học của ta là cái học mượn, cái học của người chết... người ta học để mở mang trí tuệ, còn ta học để đi thi." Đây là một ý niệm phổ biến trong các bài phê phán của Phan Khôi về Nho học.

Tóm lại sĩ tử xưa học bằng cách "khổ học": chép tay và tụng niệm. Dù tạo ra những bậc trí thức có trí nhớ siêu phàm và đạo đức chuẩn mực, nhưng đúng như Ngô Tất Tố và Phan Khôi nhận định, lối học này đã khiến xã hội Việt Nam chậm bước trong việc tiếp cận tri thức khoa học thực nghiệm.

Những bộ óc chuyên về hệ thống “đóng” của kinh điển bỗng chốc trở nên bất lực trước một thế giới “mở” đầy biến động và kỹ thuật. Trong phong trào Cần Vương, dù đối mặt với hỏa lực phương Tây theo kiểu "trứng chọi đá", nhưng vì sự cứng nhắc đạo đức và lòng trung quân, họ thà hy sinh để bảo vệ sĩ khí hơn là thỏa hiệp.

Tuy nhiên, tố chất này không mất đi. Bước sang cuối thế kỷ 20, hậu duệ của tầng lớp "nho sĩ hệ thống hóa" ngày xưa đã tỏa sáng trong các lĩnh vực STEM (Science, Technology, Engineering, Math) tại các nước tiên tiến và gần đây hơn tại chính đất nước chúng ta. Khả năng siêu tập trung và tư duy thuật toán của những "ông đồ gàn" năm xưa đã được tái sinh trong hình hài các kỹ sư phần mềm và nhà khoa học dữ liệu trong thời đại kỹ thuật số.

Quý Linh - 10: Ngày nay với sự xuất hiện của trí tuệ “siêu năng lực” AI, xin anh cho biết phương cách thu thập kiến thức thay đổi như thế nào?

BS. Hiền: Người Việt còn tranh luận nên gọi AI/artificial intelligence là ‘thông minh” nhân tạo hay “trí tuệ” nhân tạo. AI chỉ mới ra đời vài năm, chúng ta chưa biết được nó sẽ phát triển tới mức nào, cho nên cũng khó nói được là dùng từ “trí tuệ” đúng hay sai.
AI học từ rất nhiều dữ liệu được thu thập trên internet, từ sách, báo, mã nguồn, hình ảnh, âm thanh… đã được xử lý và lọc trước khi dùng để huấn luyện mô hình. Mới đây chúng ta biết người ta đã mua hàng triệu cuốn sách, xé bìa ra thành từng tờ để máy tính đọc và học.
Về cách “lý luận”, bên trong AI là một mô hình toán học rất lớn, khi huấn luyện nó điều chỉnh hàng tỷ tham số sao cho với mỗi dữ liệu đầu vào sẽ cho ra đầu ra phù hợp; quá trình này giống như “nội suy” theo mẫu đã thấy chứ không phải suy nghĩ có ý thức như con người. “Nội suy” (interpolation) là cách ước tính giá trị ở những điểm chưa đo, dựa trên các điểm dữ liệu đã biết nằm xung quanh nó.
Nói đơn giản: ta có vài điểm A, B, C đã biết giá trị, rồi suy ra giá trị “ở giữa” chúng mà không cần đo trực tiếp. Ví dụ: Thị giác máy tính (Siêu độ phân giải) ( computer vision/superresolution): Khi bạn nâng cấp một bức ảnh chất lượng thấp, AI sẽ sử dụng nội suy để "đoán" những điểm ảnh còn thiếu giữa các điểm ảnh hiện có sẽ trông như thế nào để giữ cho các cạnh sắc nét.
Sự trỗi dậy của AI đang đe dọa trực tiếp đến "vùng an toàn" của những người có tư duy hệ thống hóa truyền thống.

  • Xóa bỏ ưu thế ghi nhớ: AI giờ đây là một "thư viện lưu động" (walking library) vĩ đại hơn bất kỳ học giả nào; việc thuộc lòng hàng vạn chữ Hán không còn giá trị khi AI truy xuất hàng tỷ trang văn bản trong tích tắc.
  • Tự động hóa hệ thống: Những công việc như kiểm tra logic hay viết mã (coding) vốn là thế mạnh của tư duy chi tiết đang bị AI thâu tóm. Như vậy, một số lợi thế lớn của người trong phổ tự kỷ và xuất sắc trong các lãnh vực STEM đã (hoặc sắp) bị AI xóa bỏ. Xã hội hiện đại đang quay sang đòi hỏi những kỹ năng mà AI và người tự kỷ vốn gặp khó khăn nhất: sự đồng cảm (empathy) và việc điều hướng các mạng lưới xã hội phức tạp, vậy ai sẽ đáp ứng những nhu cầu này? Câu trả lời có thể là những nho sĩ của thời nay mà tôi tạm gọi là những “tân nho sĩ”, nhất là những “ông đồ gàn” trung thành với sĩ khí và lòng chính trực của mình.

Quý Linh - 11: Thưa anh, nãy giờ anh đã trình bày về nền học vấn của nho sĩ đời xưa và bản chất của AI. Bây giờ xin anh cho một sự so sánh đối với cái học của nho sĩ đời xưa với trí tuệ AI hiện đại và tinh thần Samurai Nhật Bản.

BS. Hiền: Có những điểm tương đồng và khác biệt thú vị:

  • Nho sĩ vs AI: Ngày xưa lọc ra người có khả năng "hệ thống hóa xã hội" (social systemizing), giỏi nắm bắt quy luật con người. AI hiện nay là "siêu hệ thống hóa" nhưng lại vô hồn.
  • So sánh với Nhật Bản: Dù Nhật Bản không có hệ thống Khoa cử như Việt Nam, nhưng tinh thần Samurai (Bushido) cũng khuyến khích các nét hệ thống hóa nhị nguyên và kỷ luật thép. Cả hai hệ thống đều ưu tiên quy tắc và bổn phận trên cảm xúc cá nhân, điều này vô tình làm giảm sút tính đồng cảm (empathy) nhưng lại tạo ra bệ phóng vững chắc cho sự chính trực (cũng như khả năng kỹ thuật sau này).

Ngoài ra, người nho sĩ không phải suốt đời bị gò bó trong cái lồng nho giáo. Nguyễn Công Trứ là một thí dụ. Người Nhật cũng như người Việt lúc già thường bước ra khỏi “ vùng cương tỏa “ của Khổng Mạnh để đi vào tôn giáo, Lão giáo, Phật giáo hay cả Thiên Chúa giáo.

Quý Linh - 12: Thưa anh, chúng ta được biết là sự học của các nho sĩ đặt căn bản trên sự trau giồi đạo đức để trở thành người quân tử. Liệu AI có thể có được căn bản đó? Ai là người có khả năng có “bộ óc” mà anh gọi là “tân nho sĩ”?

BS. Hiền: AI vận hành theo logic tối ưu hóa lợi ích (Lợi), dễ dẫn đến "ảo giác" (hallucinations) hoặc các quyết định thực dụng thiếu tính nhân văn. AI có thể thông minh nhưng không có cốt lõi đạo đức.

  • “Tân nho sĩ” (Digital Scholar): Đây chính là những người dùng khả năng hệ thống hóa khắt khe để giám sát đạo đức AI. Họ dùng sự "gàn" (chính trực cực đoan) để đảm bảo AI tuân thủ các nguyên tắc "nghĩa" thay vì chỉ chạy theo thuật toán lợi nhuận.
  • Ví dụ Anthropic (2026): Cuộc xung đột giữa Anthropic và chính quyền Mỹ năm 2026 là minh chứng sống động. Anthropic đóng vai trò như những "anh đồ gàn" hiện đại, kiên quyết từ chối “vũ khí hóa” AI dù chịu áp lực chính trị, để bảo vệ những giá trị nhân bản. Đó chính là sứ mệnh của “tân nho sĩ” : giữ gìn kỷ cương trước sự lạnh lùng "bất nhân" của thuật toán.

Bàn về đề tài này làm tôi nhớ đến một bộ phim truyền hình mới đây tên “Pluribus”, là một loạt phim truyền hình khoa học viễn tưởng hậu tận thế của Mỹ do Vince Gilligan sáng tạo cho Apple TV. Lấy bối cảnh và được quay chủ yếu ở Albuquerque, New Mexico, loạt phim kể về một nhà văn tên Carol Sturka (Rhea Seehorn), người bị cô lập sau khi một loại virus ngoài hành tinh biến đổi phần còn lại của nhân loại thành một trí tuệ tập thể (hive mind: bộ óc của một tổ ong) hòa bình và mãn nguyện, nhưng vẫn tìm cách đồng hóa nhà văn và những cá thể khác miễn dịch với virus. Bộ phim này được xây dựng 7-8 năm trước khi các chatbot AI xuất hiện nên không phải nói về AI. Tuy nhiên nó hay ở chỗ nếu chúng ta thay thế virus ngoài hành tinh bằng trí tuệ AI do con người tạo ra, nó lại giúp chúng ta nêu lên vấn đề đạo đức dữ liệu, sự đồng hóa của thuật toán và khí tiết của người trí thức mà chúng ta gọi là ông đồ gàn” trong bối cảnh Việt Nam truyền thống.

-Nhìn từ góc cạnh vai trò tương lai của AI:

Tên phim Pluribus lấy từ khẩu hiệu quốc gia của Hoa Kỳ, nhưng trong kỷ nguyên số, nó trở thành một ẩn dụ về thuật toán.

  • Pluribus (nhiều): Đại diện cho hàng tỷ dữ liệu cá nhân, những thói quen, góc khuất và sự khác biệt của mỗi con người.
  • Unum (một): Là mô hình AI duy nhất mà các tập đoàn công nghệ tạo ra để "gán nhãn" bạn. Thông điệp: Bộ phim cảnh báo rằng khi chúng ta bị "tổng hợp hóa" vào một hệ thống dữ liệu chung, bản sắc cá nhân sẽ bị nghiền nát để phục vụ cho sự tối ưu hóa của máy móc, là một sự đồng hóa cưỡng ép.

-Các xung đột chính (Xung đột Nghĩa - Lợi)

  • Cái “lợi” của thuật toán: sự tiện lợi, khả năng dự báo chính xác hành vi người dùng, lợi nhuận khổng lồ từ việc quảng cáo mục tiêu. AI muốn biến xã hội thành một cỗ máy vận hành trơn tru, không có sai số.
  • Cái “nghĩa” của con người: quyền được riêng tư, quyền được sai lầm và quyền được "không giống ai". Bộ phim đặt ra câu hỏi: Liệu một xã hội quá hoàn hảo về mặt dữ liệu có còn là một xã hội nhân văn?

-Vai trò của "Ông Đồ Gàn" (“out-of-the-box scholars”)

Phim cho thấy những người phản kháng lại hệ thống này thường là những người:

  • Tư duy độc lập, miễn nhiễm với virus đồng hóa : Không chấp nhận các "gợi ý" của thuật toán.
  • Chấp nhận sự lập dị: Họ là những người đứng ngoài lề (outliers) làm rối loạn các mô hình dự báo của AI.
  • Bảo vệ nhân tính: Trong khi đám đông bị cuốn theo dòng chảy dữ liệu, những "Ông Đồ Gàn" hiện đại là những người đứng lại, đặt câu hỏi về đạo đức và sự tự do.

-Bài học về đạo đức dữ liệu (data morality)

  • Dữ liệu không vô tri: Mỗi điểm dữ liệu là một phần của con người. Sử dụng dữ liệu thiếu đạo đức là xâm phạm vào phẩm giá con người.
  • Sứ mệnh của “tân nho sĩ” : Chúng ta cần những người không chỉ giỏi kỹ thuật mà còn phải "gàn" trong đạo đức để viết lại "Hiến pháp" (Constitution) cho AI (như cách Anthropic đang làm), đảm bảo rằng máy móc phải phục vụ con người chứ không phải đồng hóa con người. Phim Pluribus không chỉ là câu chuyện về dữ liệu, mà là cuộc chiến bảo vệ cái Pluribus (sự đa dạng cá nhân) trước cái Unum (sự đồng hóa của thuật toán). Chúng ta cần những Tân Nho sĩ — những người đủ 'gàn' để không bị AI thao túng và đủ 'nghĩa' để đặt ra các giới hạn đạo đức cho công nghệ, nhằm giữ lại phần Người nhất trong một xã hội đang dần bị cơ giới hóa.

Các "tân nho sĩ" (ông đồ gàn) chính là những người thực thi bản Hiến pháp này. Họ là những người nhắc nhở chúng ta rằng: Cái "Một" (Unum) chỉ có giá trị khi nó được xây dựng từ sự tôn trọng cái "Nhiều" (Pluribus), chứ không phải bằng cách tiêu diệt sự khác biệt.
Trong tương lai, những người "gàn" nhất, những người khó bị AI hiểu và điều khiển nhất, lại chính là những người dẫn dắt nhân loại giữ vững bản sắc của mình.

Quý Linh: Thời gian dành cho chương trình Văn Hóa Việt sắp chấm dứt. Chúng tôi xin mời BS. Hiền cho lời kết cho buổi nói chuyện hôm nay.

BS. Hiền: Lịch sử đang lặp lại theo một cách thức mới, đầy thách thức. Ngày xưa, Khoa cử tạo ra những ông đồ với trí nhớ đặc biệt và khả năng tập trung siêu phàm để điều hành bộ máy phong kiến và lắm khi họ cố gắng giữ gìn kỷ cương triều chính bằng sự "gàn" chính trực. Trong kỷ nguyên số năm 2026, khi AI có thể làm mọi thứ thông minh hơn con người, chúng ta lại cần chính sự bướng bỉnh và khả năng "logic hóa đạo đức" của họ để giám sát đạo đức dữ liệu. Mây hôm trước, tôi đọc một tin thú vị: các sinh viên tốt nghiệp ngành triết có vẻ tìm việc làm dễ hơn những chuyên viên về công nghệ thông tin trong thời đại AI. Có vẻ như công nghệ AI đang đi tìm những người hướng dẫn về đạo đức và nhân văn cho nó.
Hậu duệ của những "ông đồ gàn" không mất đi ưu thế; họ chỉ đang chuyển dịch từ việc ghi nhớ dữ liệu sang việc bảo vệ bản chất con người. Trong một thế giới của thuật toán, sự kiên định đến mức "gàn dở" với sự thật chính là nơi bảo vệ cuối cùng của tính nhân văn và căn cước của chúng ta. Sĩ khí của nghìn năm trước nay đã trở thành ngọn hải đăng cho tương lai kỹ thuật số.

Quý Linh: Xin cảm ơn BS. Hồ Văn Hiền đã dành thì giờ quý báu trình bày đề tài Tân Nho Sĩ với thính giả đài Saigon Houston.
Xin cảm ơn BS. Hiền.
Xin mời BS. Hiền gửi lời chào đến quý thính giả.

BS. Hiền: Cảm ơn quý thính giả đã theo dõi phần nói chuyện của tôi. Cảm ơn chị Quý Linh cho tôi cơ hội trình bày đề tài. Xin kính chào quý thính giả đài Saigon Houston.

Quý Linh: Xin cảm ơn quý thính giả đã theo dõi chương trình hôm nay.
Xin kính chào quý thính giả và xin hẹn gặp lại quý thính giả trong chương trình lần tới.

Chương trình Văn Hóa Việt
Thực hiện ngày 25 tháng 6 năm 2026

Hồ Văn Hiền và Quý Linh

 

Thống-Kê Vào Làng

Viet Nam 26.7% Viet Nam
China 26.2% China
Singapore 16.6% Singapore
United States of America 12.8% United States of America
Italy 5.3% Italy
Germany 3.1% Germany
Brazil 1.9% Brazil
Canada 1.2% Canada

Total:

136

Countries