"Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá tràng-kình ở Biển Đông, quét sạch bờ-cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm-đuối chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu, cong lưng làm tỳ-thiếp cho người ta"  ** Triệu Thị Trinh **

HomeVăn-HọcTruyệnTruyện Trên Đồi TrăngTruyện: Quẩy Gánh Non Sông

Truyện: Quẩy Gánh Non Sông

 

Quẩy Gánh Non Sông (1)
(Cô gái chăn trâu)

                                                                                                     Kính dâng Anh-Linh Sông Núi 

 

   Mặt trời đã lên cao. Ánh nắng đổ xuống giòng sông làm chóa mắt cô gái chăn trâu.

Cô giục-giã lũ vật:

   - Đi mau, đi mau!

   Chú nghé con nghiêng đầu, cúi xuống uống thêm vài ngụm nước rồi vùng chạy theo đàn. Lũ trâu chậm rãi bước qua sườn đồi. Cô nhẩy xuống lưng con vật lớn nhất, bước về phía cái miếu hoang.

   - Cho chúng mày tự-do.

   Mấy con sáo đen đậu trên cây gạo hoa đỏ thấy người ríu-rít bay xa. Tới của miếu cô dừng lại… Bên này sông, dưới chân ngọn núi là làng Sơn-Việt. Bên kia sông, gần cuối chân mây là làng Thượng-Hà… Cô trầm-ngâm một lúc rồi thì-thầm:

   - Mẹ ơi! Con sẽ cố-gắng.

   Cô cúi xuống đứng tấn rồi bước theo một đồ hình trong trí tưởng-tượng; miệng đếm, tay múa thế võ chưa thuần-thục:

   - Một trái, ba phải, lùi năm.

   Chân dẫm lên một hòn đá sắc, cô lò-cò xuýt-xoa:

   - Đau quá! Vào miếu nghỉ đã.

   Bỗng cô dừng lại. Một gã đàn ông gầy-gò đang ngồi dựa vào tường, hai mắt nhắm nghiền, mặt xanh-xao.

   Cô hỏi:

   - Sao ông ngồi đây?

   Người đàn ông không trả lời, cô bé chăn châu gặng hỏi:

   - Sao ông không trả lời tôi?

   Gã mệt-mỏi:

   - Chỗ này của cô sao?

   Cô gái cong môi:

   - Đây là miếu hoang nhưng ông không thấy dấu quét dọn à?

   Gã đàn ông vịn tường đứng dậy. Mặt hơi nhăn khi cử-động. Giọng từ-tốn:

   - Thôi, để tôi đi vậy.

   Người con gái đổi ý:

   - Ông bị đau à? Xin ông đừng bận tâm.

   Người đàn ông nói:

   - Cám... ơn.

   Gã nói xong thì thấy đầu óc choáng-váng. Hình-ảnh của cô gái trước mặt nhòe đi, bức tường của tòa miếu nhỏ chao nghiêng. Gã mơ-hồ nghe tiếng êm-đềm bên tai:

   - Ông ngồi xuống đã.

   Người đàn ông ngồi xuống điều khí. Cơn đau như xé ngực. Gã lẩm-bẩm được vài tiếng rồi gục xuống.

   Khi gã tỉnh dậy, trời chiều đã muộn. Gã lấy tay sờ chiếc khăn nhỏ sũng nước đắp trên trán.

   Gã nói:

   - Cám ơn cô.

   Cô gái điềm-nhiên:

   - Không có gì.

   - Chiều muộn rồi, cô nên về đi.

   - Tôi ở lại đây giúp ông chống kẻ thù.

   Người đàn ông mỉm cười:

   - Tôi quên cô biết võ.

   - Sao ông biết?

   Gã trả lời:

   - Tôi nghe tiếng chân cô học võ ở ngoài.

   - Ông tò-mò quá.

   Gã đàn ông hiền-từ ngước lên. Cô gái lúng-túng:

   - Xin lỗi ông. Tôi lỡ lời. Thôi ông đừng nói nữa kẻo mệt.

   Người đàn ông giục cô gái:

   - Trời đã muộn!

   Người con gái nghĩ tới ông Bá Hạc phì-nộn khó tính. Ông sẽ giận-dữ nếu nàng không dẫn đàn trâu về đúng lúc.

   Cô đứng dậy cầm cái bầu nậm ở góc miếu lên để bên người lạ. Gã hỏi:

   - Rượu hả?

   Cô bẽn-lẽn:

   - Tôi là con gái không uống rượu. Đây là bình nước. Mai tôi trở lại.

   Gã hỏi:

   - Tên cô là gì?

   Nàng cười:

   - Gọi tôi là Mít. Hồi bố mẹ tôi còn sống, tôi thích ăn mít lắm.

   - Bây giờ thì sao?

   Nhớ tới những ngày hai mẹ con khổ-cực, nàng chép miệng:

   - Vẫn còn thích nhưng ai cho ăn. Ông là ai?

   Thấy người đàn ông ngần-ngừ, nàng vui-vẻ:

   - Tốt lắm. Ít nhất ông không muốn nói dối. Chào ông.

   Sáng hôm sau Mít trở lại. Gã đàn ông đang ngồi nhắm mắt dưỡng thần. Nàng ân-cần:

   - Ông còn đau không?

   Gã yếu-ớt nói:

   - Đỡ rồi.

   Cô đặt gói lá chuối xuống, nhặt bầu nước nhắc nhắc vài cái.

   - Cơm của ông đây. Hết nước rồi để tôi đi lấy.

   Gã cảm-động:

   - Cám ơn cô.

   Bốn ngày trôi qua. Người đàn ông đã gượng đứng dậy được. Buổi sáng Mít ghé thăm rồi dắt trâu đi. Buổi trưa, nàng trở lại nói chuyện, học võ. Xế chiều, nàng dẫn lũ trâu về phía hạ-lưu của giòng sông.

 

   Một buổi sáng nàng ghé qua, người đàn ông không còn ở đó. Tự dưng nàng buồn muốn khóc. Chả lẽ gã bỏ đi không một lời từ-biệt? Nàng ngồi bên cửa miếu thừ người. Mới hôm qua, những hôm trước nữa gã chăm-chú nghe nàng nói chuyện. Những lời an-ủi của gã làm Mít vơi nỗi buồn rầu. Mít chưa bao giờ được ai đối-xử như vậy.

   Cô gái mím môi đứng dậy:

   - Trên đời này có ai cần mình đâu?

   Cô bước xuống dốc. Người đàn ông đang ngồi dưới gốc cây bên đường nhìn mây trắng. Bên cạnh gã là một trái mít lớn tỏa mùi thơm ngào-ngạt. Nhìn thấy mồ hôi lấm-tấm trên vầng trán rộng, cô vội-vã hỏi:

   - Ông chưa khỏi mà đi đâu?

   Gã nhìn nàng trả lời.

   - Đi kiếm mít cho cô.

   - Ai bảo ông làm vậy? Vết thương đã lành hẳn đâu.

   Gã hiền-hòa:

   - Tôi đỡ rồi. Nếu không hái sớm trái mít rụng mất.

   - Thế ra ông thấy từ trước. Cây mít ở đâu thế ông?

Gã chỉ tay về phía ngọn đồi cuối chân trời. Cô gái ái-ngại:

   - Trời ơi, xa thế cơ à?

   - Thôi mình lên miếu, tôi muốn bổ mít mời cô.

   Cô gái dặn:

   - Ông gọi tôi là Ngọc-Kiều.

   Gã buột miệng:

   - Tên hay quá. Còn tôi là Vĩnh. Trần Xuân Vĩnh.

   Cô gái reo vui:

   - Thế là tôi biết tên ông.

   Gã cúi xuống bưng quả mít lên. Ngọc-Kiều vội-vã:

   - Để tôi.

   Nàng ngồi bên cửa miếu chăm-chú nhìn gã xẻ quả mít. Không có dao, gã lấy tay thọc nhẹ. Ngón tay ngập qua vỏ quả mít chín… Khi những múi dài, óng-ả ló ra, cô xuýt-xoa:

   - Trời ơi, mít ống.

   - Đúng đấy. Những múi dài này có nước ngọt. Cô ăn đi.

   Ngọc-Kiều sung-sướng:

   - Tôi ăn mà.

   Thấy gã ngồi im, nàng hỏi:

   - Sao ông không ăn?

   Vĩnh từ-tốn:

   - Cô cứ tự-nhiên. Thấy cô vui là tôi thích lắm rồi.

   - Ông không ăn. Tôi cũng không ăn nữa.

   Gã hiền-từ lắc đầu:

   - Cô không nên ép-buộc người khác.

   Cô gái gật nhẹ đầu:

   - Thôi được. Tôi xin nghe lời ông.

   Lúc sau, gã đàn ông hỏi:

   - Cô nghĩ gì thế?

   Cô gái tâm-sự:

   - Tôi không dám ép-buộc ông đâu. Nhưng có ngày giỏi võ, tôi sẽ ép-buộc kẻ khác.

   - Ai đấy?

   Ngọc-Kiếu thở dài, mơ-màng nhìn vào khoảng không trước mặt. Giọng nàng đấy u-uất:

   - Kẻ thù giết mẹ.

   Rồi nàng buồn-bã tiếp:

   - Võ-nghệ của tôi yếu quá. Tôi không bao giờ theo kịp bố tôi, học mãi vẫn không tiến-bộ. Nhiều khi tôi nản-chí vô cùng.

   Nhìn hình-dáng gầy-gò của Vĩnh, nàng cười:

   - Tôi làm như tâm-sự với người thích võ không bằng.

   Hình như gã có điều gì muốn hỏi. Thấy vậy nàng bảo:

   - Ông cứ nói.

   - Bố cô giỏi võ lắm nhỉ?

   - Giỏi lắm. Tiếc rằng ông chết quá sớm. Ông bị lũ quỷ ngoại-xâm phục-kích giết chết với bẩy người khác. Bố sửa-soạn trước nên đã dặn mẹ nhỡ có chuyện gì thì về nhờ vả người anh em kết-nghĩa. Đó là ông Bá. Ông ấy còn là bà con xa với bố tôi.

   Gã gật đầu:

   - À, ra thế.

   - Ông Bá không phải là người tốt nhưng không tệ-hại. Ông cho mẹ con tôi ở cái nhà nhỏ góc vườn. Mẹ hết sức làm nhừng việc của lũ gia-nhân. Mẹ không muốn phiền-lụy người khác.

   Ngọc-Kiều nhìn về phía bờ sông lấp-lánh ánh mặt trời kể lể:

   - Khi mẹ con tôi về được ít tháng thì cuối năm ấy vào tháng mười ông già đưa đò trên giòng sông Giáng-Vân này bị chết. Ông bơi lội giỏi và còn tráng-kiện. Mọi người tưởng ông bị gió độc nhưng nửa tuần trăng sau hai người khác chết, xác trôi vào ghềnh đá cuối sông. Trên người không thấy một dấu đánh đập nào. Kể từ đó, thỉnh-thoảng có người thiệt-mạng.

   Dân hai làng Thượng-Hà và Sơn-Việt cho là nạn hà-bá. Họ cúng-kiếng đủ thứ nhưng chẳng ăn thua gì.

   Có người đưa ý-kiến làm một cây cầu qua sông. Dân hai làng nhiệt-liệt tán-thành. Họ cho người lên thượng-du chặt gỗ tốt chở tới sông rồi thả theo giòng. Mọi người hăm-hở lắm. Mỗi làng bắc nửa cây cầu. Họ bắc từ bờ sông phía làng mình ra giữa. Ban đêm, họ thắp đuốc thay phiên.

   Được vài tháng thì mấy ông nhà giầu làng Sơn-Việt xót của không chịu đóng góp như lúc đầu. Trai tráng trong làng ngoài việc bỏ sức ra, họ còn phải nuôi gia-đình. Làng Sơn-Việt nghèo lắm. Họ rút bớt nhân-công mới chịu nổi. Bên Thượng-Hà e-ngại nhỡ làm xong phần mình mà làng Sơn-Việt không hoàn-tất phần họ được thì sao.

   Cô gái chỉ cho người đàn ông những cây cột đóng xuống hai bên giòng sông:

   - Thế rồi lời qua tiếng lại. Họ giận nhau, đình chỉ việc làm cầu. Từ khi không có người làm việc trên sông nữa, khách qua sông lại bắt đầu bị chết. Các kỳ-lão hai làng ngồi xuống với nhau. Công-cuộc tiếp-tục được vài tháng thì người bên Thượng-Hà khám-phá ra chân cầu của họ cao hơn chân cầu của bên Sơn-Việt gần nửa thước. Họ đòi làng Sơn-Việt phải làm cao hơn. Bên Sơn-Việt không chịu. Cuộc võ mồm biến thành cuộc võ chân tay. Mỗi bên cử một đại-diện. Cuộc đấu khốc-liệt lắm, không phân-biệt được hơn thua. Cả hai đại-diện đều bị thương nặng gần chết.

   Cô gái tâm-sự:

   - Mỗi lúc nhìn thấy những cây cột bơ-vơ, tôi lại buồn. Bao nhiêu người chết vì chiếc cầu chưa hoàn-tất mà người ta vẫn không bảo được nhau. Không hợp-quần sao làm nên sức mạnh? Trong khi đó lũ ngoại-xâm cưỡi lên đầu lên cổ chúng ta.

   Giọng cô gái hiền-thục trở nên cương-quyết. Mắt cô long-lanh ánh lửa:

   - Súng ống dù mạnh nhưng không thể đè-bẹp lòng người. Đó là nói về lòng người không ly-tán. Tiếc rằng tôi chỉ là đứa chăn trâu nói không ai nghe.

   Những lời của cô gái làm người đàn ông xúc-động. Ngọc-Kiều không tầm-thường như gã tưởng.

   - Mong cô nối được chí cha.

   Cô bé than:

   - Tôi muốn lắm nhưng không đủ sức. Nhìn thấy kẻ thù giết mẹ hàng ngày mà không làm gì được. Tôi chỉ là người vô-dụng.

   Người đàn ông nghiêm mặt hỏi. Âm-thanh rõ-ràng và sắc như lưỡi dao chém xuống:

   - Ai là thủ-phạm giết mẹ cô?

   - Tên võ-sư nhà ông Bá.

   - Gã từ đâu tới, cô biết không?

   Cô gái buồn-bã thở dài:

   - Để tôi kể ông nghe. Khi khách qua sông bị giết càng ngày càng nhiều. Mọi người đều hoang-mang thì một đứa bé chăn trâu tình-cờ nhìn thấy kẻ giết người. Nó ỏ xa nên không rõ mặt, chỉ biết gã cầm vật gì như cái quạt đâm vào nạn-nhân. Người lạ mặt đá xác chết xuống sông rồi bỏ đi mất. Khi khám-nghiệm tử-thi của người xấu số, quả thật có một chấm đen trên vai. Ngày hôm sau đứa bé chăn trâu bị giết chết, xác vứt xuống sông. Bấy giờ người ta biết thủ-phạm là người chứ không phải hà-bá, thủy-thần gì cả. Nó giết nhân-chứng.

   Ông Bá là nhà giầu nhất vùng nên càng lo sợ. Ông mời được hai võ-sư từ phương xa tới. Họ là hai anh em học cùng thầy. Người anh thâm-trầm, lạnh-lùng. Người em hay uống rượu. Các thầy võ vùng này nói rằng võ-nghệ của người anh giỏi không thể tưởng-tượng. Tên ông là Mai-Hạ. Người em háo-sắc, tên hắn là Tôn Cầu. Thấy mẹ đẹp, hắn nói ra những lời bậy-bạ. Mẹ buồn lắm nên dặn-dò tôi nhiều điều. Rồi một ngày hắn bắt cóc mẹ định giở trò càn-rở. Mẹ cắn lưỡi chết chứ không chịu nhục. Nó vứt xác mẹ ra bụi tre. Gia-nhân trông thấy nhưng ông Bá cứ lờ như không biết. Ông còn bỏ tiền đút lót quan trên che-chở cho hắn.

   Cô bé nói đến đây nước mắt trào ra:

   - Tội-nghiệp mẹ vô cùng.

   Người đàn ông thở dài:

   - Cô muốn trả thù thì phải học võ thật giỏi.

   - Mẹ trao cho tôi cuốn võ học của bố. Tôi cố-gắng mà không tiến-bộ đáng kể. Trời ơi, tại sao tôi ngu-dốt quá chừng.

   - Không phải đâu. Cô cần người giỏi chỉ-dẫn lúc đầu.

   Cô gái than:

   - Thầy giỏi nào muốn nhận tôi. Tôi chỉ là đứa con gái bất-hạnh.

   Người đàn ông tư-lự nhìn vào khoảng không trước mặt. Cả hai đều im-lặng. Một lúc thật lâu sau, gã xót-xa hỏi:

   - Cô thực-sự muốn học võ không?

   Cô gái không do-dự trả lời:

   - Tôi muốn lắm.

   Gã gặng hỏi:

   - Cô có tự-nguyện ép mình trong khuôn-khổ của những quy-luật chặt-chẽ không?

   - Tôi tự-nguyện. Ông quen thầy võ nào giỏi ư?

   Gã lặng-lẽ bảo:

   - Tôi nhận cô làm học trò.

   Ngọc-Kiều ngạc-nhiên:

   - Ông nói gì? Ông muốn dậy tôi võ sao?

   Người đàn ông gật đầu:

   - Phải.

   - Làm sao tôi biết ông giỏi võ.

   Gã mỉm cười:

   - Thử thì biết. Cô đánh tôi đi.

   Cô gái đứng tấn, định vung tay đánh xuống người đàn ông đang ngồi nhưng rồi nàng lắc đầu.

   - Không được, tôi đánh gẫy xương ông mất.

   Nhìn bàn tay búp măng xinh-xắn của người thiếu nữ, gã cười:

   - Cứ thử đi.

   Nàng chạy ra ngoài khệ-nệ bưng bấy, tám cục gạch xếp trước cửa miếu khẽ nói:

   - Ông coi đây!

   Ngọc-Kiều bước tới vung tay. Chồng gạch bị sức chấn-động vỡ làm hai. Người đàn ông kêu lên:

   - Trời ơi!

   Cô gái thành-thật:

   - Tôi không dám đấm ông. Nhỡ ông bị thương, tôi đâu có thể chăm-sóc được.

   Thấy gã im-lặng, nàng hỏi

   - Ông nghĩ gì đấy.

   - Tôi làm được hơn thế. Cô nhận tôi làm thầy không?

   Cô gái lắc đầu:

   - Không hơn được đâu.

   Gã vặn hỏi:

   - Nhỡ hơn thì sao?

   Cô tự tin:

   - Ông đã sợ thì làm sao hơn được. Nào đánh cuộc đi.

   Người đàn ông ra ngoài nhặt một viên gạch rồi quay lại. Cô gái cười khúc-khích:

   - Giỏi quá! Ông muốn đánh bể một viên gạch đấy à?

   Gã gật đầu:

   - Đúng vậy.

   Xuân-Vĩnh không đặt viên gạch dưới đất mà tung lên trời. Tay phải chàng như lười dao chém tới. Viên gạch đứt làm hai.

   Ngọc-Kiều tròn mắt kinh-ngạc:

   - Ông làm được vậy sao?

   - Làm được. Bây giờ cô nhận tôi làm thầy chưa?

   Ngọc-Kiều cắn môi. Người đàn ông và nàng trong những ngày qua thân ái như bạn. Bây giờ phải tôn gã làm thầy. Ngẫm-nghĩ một lúc, nàng lắc đầu:

   - Không được đâu.

   Gã đàn ông bảo nàng:

   - Người quân-tử không được nuốt lời.

   Ngọc-Kiều cãi:

   - Tôi có phải đàn ông đâu mà là người quân tử?

   Xuân-Vĩnh nghiêm-giọng:

   - Không được đùa-cợt. Cúi xuống lạy ta mau.

   Cô gái bĩu môi nói:

   - Không lạy, không lạy. Ông vừa vô-tình, vô nghĩa vừa đánh lừa tôi. Ông là ngụy quân-tử, làm thầy tôi sao được.

   Gã có vẻ giận:

   - Hừ, cô hãy cắt nghĩa đi.

   - Này nhé, chuyện gi tôi cũng kể ông nghe mà ông thì chuyện gì cũng giấú-diếm. Đó là thiếu chân-tình. Ông biết chắc mình thắng cuộc mà còn bẫy tôi vào đó là thiếu thẳng-thắn. Ông là người khôn-ngoan, tôi là kẻ khờ-khạo. Ông làm vậy mà hãnh-diện được sao? Nếu không cho là đúng, ông cứ đánh tôi chết đi. Kẻ “không trượng-phu” này chẳng hề sợ hãi.

   Người đàn ông bật cười:

   - Cô lý-lắt quá lắm. Muốn trả được thù thì phải học võ. Cô chạy đằng nào cho khỏi?

   - Học võ thì được. Nhận làm thầy thì không. Hay chúng ta kết-nghĩa anh em đi.

   Người đàn ông đang vui-vẻ đột nhiên đổi sắc. Làn da mặt co lại. Gã quát to:

   - Tôi cấm cô không được nói hai chữ anh em. Cô đi mau ra khỏi chỗ này …Cô làm ơn đi mau.

   Ngọc-Kiều nước mắt lưng tròng bước xuống đồi. Thế là hết! Cô sẽ không bao giờ gặp con người tàn-nhẫn này nữa. Người đàn ông đã trấn-tĩnh được cơn thịnh-nộ, gã thở dài nhìn theo Ngọc-Kiều.

Ngày hôm sau, cô gái không tới. Gã chờ đợi sốt ruột. Ba ngày kế tiếp gã cũng không thấy mặt nàng. Lòng cô-đơn, gã lẩm-bẩm:

   - Tội-nghiệp! Cô ta có lỗi gì đâu?

   Trưa hôm sau nữa, cô bé bước vào cửa miếu. Không thấy Vĩnh ở đó. Cô lặng người nhìn thềm miếu tần-ngần.

   Bỗng có tiếng nói đằng sau:

   - Cô trở lại. Tôi đã chờ cô mấy ngày.

   Lời nói dịu-dàng đó làm cô muốn trào nước mắt.

   - Tôi .,,tôi quay lại để hỏi ông tôi có lỗi gì? Mấy ngày nay tôi buồn quá!

   Vĩnh ôn-tồn:

   - Cô đừng lo-ngại nữa. Tôi đang định tìm cô đấy. Tôi cũng ân-hận.

   Ngọc-Kiều quay lại. Dáng-điệu ủ-dột biến mất.

   - Ông nhân-từ đúng như tôi nghĩ.

   Vĩnh lắc đầu:

   - Tôi có lỗi chứ nhân-từ cái gì. Cô muốn học võ không?

   Nàng lưỡng-lự:

   - Muốn lắm nhưng …

   - Cô không cần nhận tôi làm thầy. Tôi dậy võ của bố cô.

   Ngọc-Kiều ngạc-nhiên:

   - Ông là ai mà hiểu được võ của bố tôi?

   - Khi lên tới một trình-độ võ học nào đó, người ta hiểu được võ của người khác dù chỉ nhìn thoáng qua. Vả lại, tôi đã thấy cô luyện võ trong nhiều ngày.

   Vĩnh bước ra phía sau miếu nơi có hàng cây lớn. Chàng ra dấu cho Ngọc-Kiều ngồi trên tảng đá.

   - Qua những thế võ cô tập, tôi biết bố cô là người anh-hùng, đường đường, chính chính. Ông có sức mạnh khó người bì kịp.

   Nhừng lời dễ nghe của Vĩnh làm Ngọc-Kiều mát lòng:

   - Ông nói đúng. Bố tôi là người rất đáng kính.

   Chàng giải-thích thêm:

   - Những thế võ mà ông dùng thích-hợp với người có thể-chất to lớn. Cô là người mảnh-dẻ, nhanh-nhẹn. Đừng cố bắt-chước giống hệt như ông. Hãy tận-dụng ưu-điểm của mình. Quyển võ thuật của bố cô chỉ là gợi ý.

   Cô gái thắc-mắc:

   - Sao ông không dậy tôi võ thuật khác.

   Vĩnh lắc đầu:

   - Tôi kính-phục võ-đạo của ông. Khí-phách cao-cả lộ rõ trong những đường quyền, bước chân. Hãy thấm-nhuần tinh-thần đó trước rồi tính sau. Võ-đạo quan-trọng hơn võ-thuật.

   - Thấm-nhuần võ-đạo lâu lắm. Tôi muốn trả thù cho mẹ.

   Vĩnh thở dài:

   - Hễ học tắt thì dễ khiếm-khuyết. Cô biết thế không?

   Ngọc-Kiều nhu-mì hỏi:

   - Tôi làm ông thất-vọng phải không?

   - Không đâu. Cô dễ mến, thẳng-thắn.

   Nàng hỏi lại:

   - Ông nói thật không?

   - Tôi chưa nói dối bao giờ.

   - Cám ơn ông.

   - Thôi, cô nên học võ. Cô cần ngẫm-nghĩ những thế võ của bố cô. Cô khai-triển theo ưu-điểm của mình. Cùng một thế võ, người mạnh hơn dễ thắng. Cô phải nhanh hơn họ nhiều mới khống-chế họ được. Cô cần thuần-thục từng thế võ.

   Ngọc-Kiều hỏi:

   - Còn chuyện gì quan-trọng nữa không?

   Vĩnh đáp:

   - Cô hãy lấy ưu-điểm của mình để chống lại khuyết-điểm của địch thủ. Cô nhớ lời tôi dặn chứ.

   - Dạ nhớ.

   Vĩnh gật đầu:

   - Lúc khác tôi dậy tiếp.

   - Ông không dậy tôi nữa thật sao?

   Vĩnh mỉm cười:

   - Hôm nay tôi nói nhiều quá rồi. Cô học đi.

   Chàng bước đi không đợi Ngọc-Kiều trả lời. Cô gái ngồi ngẫm-nghĩ những thế võ đã tập một lúc thật lâu. Nàng đứng dậy thực-hành. Trước chậm, sau mau. Cùng những bước chân ấy, cùng những cái vung tay ấy nhưng bài võ trở nên linh-động hơn nhiều.

   Nàng sung-sướng gọi chàng:

   - Ông Vĩnh!

Không có tiếng trả lời. Nàng chạy đi kiếm chàng. Người đàn ông đang ngồi nướng con gà trên đống than hồng. Ngọc-Kiều nhếch miệng nói:

   - Thơm quá! Ông Vĩnh, tôi tiến-bộ ngày hôm nay.

   Vĩnh điềm-đạm:

   - Ngày mai, ngày mốt, năm bẩy ngày nữa cô không cần tôi đâu. Cứ thế học đi.

   - Sao vậy? Tôi muốn ông dậy nữa.

   Vĩnh cười:

   - Cô tham-lam quá. Gặp người khác có lẽ tôi khỏi dậy vài tháng là ít. Thôi để tôi xé gà ra ăn.

   Ngọc-Kiều buột miệng:

   - Ông bắt gà ở đâu?

   Thấy Vĩnh nhìn, nàng tự trách:

   - Mồm với miệng. Tôi nói không suy-nghĩ gì cả. Ông bỏ qua cho tôi.

   Vĩnh hỏi:

   - Chắc cô giống mẹ. Có lẽ ngày xưa bà thuộc một gia-đình dòng-dõi.

   Ngọc-Kiều gật đầu:

   - Sao ông biết? Không có gì giấu được ông.

   - Qua những thế võ, bố cô là người bộc-trực, đơn-giản. Bởi vậy tôi nghĩ tính-tình của cô giống mẹ. Thôi cô ăn đi.

   Ngọc-Kiều đỡ lấy miếng thịt gà:

   - Ông ăn với tôi chứ?

   Vĩnh cười:

   - Được, chúng ta cùng ăn.

   Cô gái nói:

   - Ông thật tốt với tôi.

   - Cô mới tốt. Cô nhịn đói nhiều ngày vì tôi.

   Ngọc-Kiều dịu-dàng:

   - Có gì đâu.

   Những ngày sau, Ngọc-Kiều mê-mải học võ. Đôi lúc Vĩnh bỏ đi đâu mà nàng vẫn không biết. Nhiều lần nàng xua đàn trâu lên đồi rồi ôn luyện cho tới chiều. Một hôm đang mê-mải học, nàng lẩm-bẩm:

   - Bậy quá!

 

(để coi tiếp, bấm số 2)

 

Nguyễn Xuân Thiên Tường

                                                                    

                                                                    

                                                                                   1   2   3   4

  

 

 

 

 

 

    

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Share

Mục Văn-Học

Phụ-Trách

 

Với sự cộng tác:

  • Ái Hoa
  • Áng Vân
  • Bạch Xuân Phẻ
  • Dã-Tràng Biển Đông
  • Hà Việt Hùng
  • Hồ Văn Hiền
  • Huy Văn
  • Lê Hữu Uy
  • Ngô Minh Hằng
  • Nguyên Lương
  • Nguyên Nhung
  • Nguyên Tiêu
  • Nguyễn Hoàng Lãng-Du
  • Nguyễn Thanh Huy
  • Nguyễn Thị Thanh Dương
  • Nguyễn Xuân Thiên Tường
  • Tương Giang

Chủ-Trương

Do một số người yêu ngành giáo-dục, nhà giáo, trưởng Hướng-Đạo và toán Nghiên-Cứu Huấn-Luyện Dấn-Thân chủ-trương

Điều-Lệ

Những sáng-tác và sưu-tầm gửi cho Làng Huệ cần tính-cách xây-dựng, phát-triển con người; không chính-trị đảng phái, phe nhóm và không chỉ-trích, chê-bai. Khi gửi bài, tác-giả đồng-ý cho Làng Huệ phổ-biến miễn-phí trên sách báo và tuyển-tập.

Phối-Hợp

  • Hoàng Vĩnh Yên
  • Nguyễn Thị Thiên-Tường
  • Phạm Trần Quốc-Việt
  • Phù-Sa Việt

Contact / Liên-Lạc

Joomla templates by Joomlashine