THỦ DẦU MỘT, BÌNH DƯƠNG
Chỉ còn hơn tuần nữa là đến chuyến bay trở về Mỹ, cô con gái Mỹ Hạnh tranh thủ mời ba chuyến đi tham quan ngắn trong ngày.
- Ba, tuần này con rãnh mời ba đi lên Bình Dương chơi, hôm trước nghe ba nói muốn mua bình trà ở gốm Minh Long đó?
- Con định chừng nào đưa ba đi được?
- Dạ, mai mình đi Bình Dương lên đó con đãi Ba trái cây nữa.
- Ừa, đi thì đi. Hồi trước mình đi Bình Dương cũng đã hơn 10 năm rồi chắc bây giờ có nhiều thay đổi.
Mỹ Hạnh ngỏ ý muốn biết ba định tìm hiểu về đề tài gì để viết, hỏi ba:
- Ba có ý định tìm hiểu về những gì cho con biết để con sắp xếp chuyến đi.
- Ở Bình Dương là đặc khu kinh tế nhất nhì Miền Nam nhưng điều đó không phải là vấn đề định viết bài, con chọn cho ba 3 điểm đáng chú ý của Thủ Dầu Một mà mình có thể đi trong ngày. Vài di tích liên quan đến lịch sử của vùng đất này, nghề gốm và sơn mài, sau cùng là đi ăn trái cây.
- Dạ được, hồi còn học Y Dược Sài Gòn con và mấy đứa bạn hay lên đây chơi cũng biết ít nhiều. Con đề nghị thế này mình tham quan nhà thờ chánh tòa Phú Cường, chùa Tây Tạng, miếu bà Thiên Hậu, chùa Hội Khánh đó là các di tích cổ xưa hàng trăm năm, gốm Minh Long và làng gốm Bình Dương, ghé qua vài xưởng sơn mài để tham quan. Sau cùng là thưởng thức trái cây ở Lái Thiêu ngon ngọt nổi tiềng nhất Miền Đông Nam Bộ đó ba! Ở Bình Dương có nhiều KDL Sinh Thái nhưng chắc mình không đủ thời gian để đi.
Đúng ý, ông già bày tỏ sự thích thú:
- Wow, Con sắp xếp như vậy đầy đủ lắm rồi mai mình đi, cảm ơn con gái của ba.
Sau khi ăn sáng tại quán Bò Kho ở Long Thành chúng tôi thẳng tiến Bình Dương. Vòng xoáy ngả sáu được xem là trung tâm của thành phố Thủ Dầu Một thủ phủ của tỉnh Bình Dương, khu vực này là đất xưa nên có nhiều di tích lâu đời mấy trăm năm từ khi được khai phá và phồn thịnh đến ngày nay.
Đầu tiên chúng tôi đến viếng nhà thờ Chánh tòa Giáo phận Phú Cường, một điểm nhấn ấn tượng bắt gặp ngay khi đến thành phố Thủ Dầu Một.
1- DI TÍCH CỔ XƯA TẠI BÌNH DƯƠNG.
+ Nhà thờ Chánh Tòa Phú Cường.

Nhà thờ chánh tòa Phú Cường, Bình Dương.
Đến Thủ Dầu Một chúng tôi viếng nhà thờ Chánh tòa Giáo phận Phú Cường, tước hiệu “Thánh Tâm Chúa Jesus” trên đường Cách Mạng tháng tám, tại ngã sáu trung tâm thành phố. Không rỏ nhà thờ có từ khi nào, đến năm 1864 Linh mục Sorel Constant – Joseph được Giáo Hội phái đến Thủ Dầu Một, sau đó Cha cho xây cất lại nhà thờ bằng gạch đầu tiên.
Nhà thờ Phú Cường đã được nhiều lần trùng tu sau 150 năm, đến năm 2014 Giám mục Giuse Nguyễn Tấn Tước cung hiến nhà thờ mới như hiện tại. Công trình có lối kiến trúc kết hợp cổ điển và hiện đại mái vòm, chóp nhọn đặc trưng của kiểu mẩu nhà thờ Công Giáo và với tong màu trắng và xám trang nhã, uy nghi trên đồi thấp làm điểm check-in ưa thích của nhiều du khách mỗi khi đến viếng Thủ Dầu Một.
Nhà thờ Phú Cường là một trong các tòa thánh lớn nhất tại Bình Dương, gian thánh đường có không gian rộng đủ để 300 con chiên thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Có những khung cửa kiếng màu với hình Đức Mẹ La Vang, Chúa Jesus và các thánh Tông đồ thật đẹp. Chung quanh thánh đường còn có các công trình phụ như văn phòng nhà thờ, phòng nghỉ cho Linh mục, thư viện và khu vực phục vụ sinh hoạt cộng đồng.
+ Chùa bà Thiên Hậu.

Tiền diện miếu bà Thiên Hậu,
Chùa bà Thiên Hậu nằm trên đường Nguyễn Du (Thủ Dầu Một), là ngôi chùa cổ người ta không biết chính xác được cất từ năm nào do những người Hoa đông đảo đến đây lập nghiệp dựng lên làm điểm tựa tinh thần, theo ước đoán có thể là vào khoảng từ tiền bán thế kỷ 19. Chùa có nhiều tên gọi: Miếu Bà Thiên Hậu, chùa Bà Bình Dương, Thiên Hậu Cung.
Đến năm 1923, có lời kể rằng ngôi chùa cổ bị hư hại nặng và bị hỏa hoạn thiêu rụi, bốn bang hội người Hoa tại đây họp nhau xây cất lại, gồm: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Sùng Chính (Hẹ) tái tạo theo lối kiến trúc đặc trưng truyền thống theo kiểu từ xứ sở của họ trở thành điểm tâm linh tín ngưỡng như ta thấy ngày nay.
Lễ hội Chùa Bà Thiên Hậu tại Bình Dương tổ chức trong 3 ngày từ ngày 13 đến đến 15 tháng giêng âm lịch với nhiều chương trình đặc sắc như: Múa lân, lễ cúng Bà, đấu giá lồng đèn và lễ rước kiệu Bà, ngoài ra quanh chùa treo nhiều lồng đèn rực rỡ. Người Hoa quanh vùng kể cả đồng bào Việt cũng đến dâng hương bái kiến cầu phúc, mua may bán đắc, gia đạo hạnh phúc, đỗ đạt, thăng quan tiến chức, v.v… dân chúng tham gia đông đảo trở thành ngày lễ hội văn hóa lớn nhất tại tỉnh Bình Dương.
+ Chùa Hội Khánh,
Vào giửa thế kỷ 18 Đại Ngạn Thiền sư Từ Tấn trên đường vân du truyền bá giáo lý nhà Phật, nhà sư thuộc dòng Lâm Tế đến vùng Thủ Dầu Một cất thảo am nhỏ để tu hành Phật Pháp. Đến năm 1741, chùa Hội Khánh là ngôi chùa cổ được Thiền sư Từ Tấn dựng nên nơi vùng đồi núi còn hoang sơ tại đây. Ngày nay tọa lạc tại đường Yersin, phường Phú Cường, Bình Dương.
Bên trong chùa nơi chánh điện là bộ 92 cột bằng gổ quí, nhiều bảo vật quí hiếm đặc biệt có 100 tượng Phật La Hán, Thập Điện Minh Vương bằng gổ mít được sơn son thếp vàng và hai bức phù điêu miêu tả hình ảnh 18 vị La Hán cùng các vị Bồ Tát khác.
Chùa có lối kiến trúc tinh vi sắc xảo độc đáo, là chứng nhân lịch sử trải qua gần 300 năm theo những bước phát triển hưng thịnh của vùng đất Bình Dương.
Gần đây đến năm 2013, chùa Hội Khánh xây dựng thêm bức tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn dài 52 m, cao 12 m, an vị trên mái chùa cách mặt đất 23 m.
Chùa Hội Khánh không chỉ là nơi tính ngưỡng tâm linh của dân chúng đia phương mà còn là công trình mỹ thuật đáng tự hào của người dân Thủ Dầu Một – Bình Dương.
+ Chùa Tây Tạng:

Bảo tháp Ngũ Trí Như Lai,
Chúng tôi chọn điểm đến viếng chùa Tây Tạng bởi vì ngôi chùa tu theo hệ phái “Lâm Tế Chúc Thánh” cùng với Mật tông Tây Tạng, có tài liệu gọi là “Phật Giáo hệ phái Kim Cang thừa” một tông phái Thiền ít được nghe nhắc đến.
Chùa Tây Tạng là ngôi chùa Việt Nam, nằm trên đường Thích Quảng Đức, thành phố Thủ Dầu Một (Bình Dương). Ngôi chùa theo hệ phái Đại Thừa có sự ảnh hưởng giữa Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh với Mật Tông Tây Tạng. Năm 1928, Thiền sư Minh Tịnh còn gọi là Hòa thượng Chơn Phố-Nhẫn Tế đến đây cất một am nhỏ trên ngọn đồi thấp chung quan có nhiều cây cổ thụ thanh tịnh để tu tập và phổ độ chúng sanh có tên là BỬU HƯƠNG Tự .
Đến năm 1935 nhà sư hành trình về đất Phật từ Việt Nam đến Ấn Độ, Nepal rồi Tây Tạng và trở về ngược lại, sau hai năm vân du tu học và nghiên cứu Phật Pháp ông về nước năm 1937 và đổi tên chùa là Tây Tạng Tự.
Trước cổng chùa có 2 câu đối:
TÂY quy độc diệu thiên chơn BỬU,
TẠNG xuất hàm linh địa chánh HƯƠNG.
(Câu đối mang ý nghĩa:
Quay về bản tâm chân thật, tánh giác, Phật tánh,
Từ đất tâm thanh tịnh mà dung chứa vạn loài.
Theo Wikipedia).
Sau lần đại trùng tu năm 1992, chùa Tây Tạng có kiểu kiến trúc, các hoa văn họa tiết trang trí mang nét đặc trưng mỹ thuật của xứ sở Tây Tạng. Khu chánh điện hình vuông, chính giửa là ngôi tháp cao 15 m, dáng hình trụ trên tầng thượng nóc chùa có thờ 5 vị Phật của Phật Giáo Tây Tạng gọi là “Ngũ trí Như Lai”. Tập nhật ký “Tây Trúc-Tây Tạng ký” ghi lại hành trình bằng bút tích của Thiền sư Minh Tịnh, có ghi chú bằng chữ Pháp, Anh, Tây Tạng và chữ Phạn. Quyển sách khoảng 300 trang khổ lớn hiện đang cất giử kỷ lưỡng vì đó tài liệu vô cùng quí giá có 1 không 2 đối với lịch sử chùa.
Tư tưởng của tông phái Lâm Tế đầu tiên được truyền vào Việt Nam từ đời nhà Trần, bộ kinh ngữ lục quan trọng của tông Lâm Tế như “Lâm Tế Lục” và “Đại Huệ Ngữ Lục” do các vị Thiền sư từ Trung Quốc như Thiền sư Thiên Phong truyền sang. Tăng sĩ đời Trần chịu ảnh hưởng hệ tư tưởng Lâm Tế Tông, các giáo lý như “Tam huyền, Tam yếu”, “Vô vị chân nhân”, v.v… Trong bộ Đại Huệ Ngữ Lục ngài Phật Hoàng Trần Nhân Tông từng đem ra giảng dạy cho tăng chúng.
Năm 2023, tác giả cùng hai cô con gái Ngọc Ruby và Ngọc Bích đến viếng chùa Phật Tích ở Bắc Ninh, được biết vào thế kỷ 17, Phật Giáo tông Lâm Tế truyền vào Miền Bắc đến chùa này do Thiền sư Viên Văn Chuyết Thuyết (1590-1644). Sau khi viên tịch di cốt Thiền sư Chuyết Thuyết được trang trọng thờ tại chùa Phật Tích ở tỉnh Bắc Ninh.
(Chúng tôi viếng các chùa miếu ở Bình Dương là để tham quan một di tích liên quan đến lịch sử nên không tìm hiểu sâu vào triết lý của Phật giáo Lâm Tế, mong được thông cảm).
2- NGHỀ GỐM SỨ BÌNH DƯƠNG.
+ Làng gốm Thủ Dầu Một (Bình Dương).
Tỉnh Bình Dương nổi tiếng với nghề gốm sứ, từ hạ bán thế kỷ 19 do những người Hoa gốc Quảng Đông và Triều Châu đến đây tìm thấy các mỏ đất sét tốt, đặc biệt là đất sét trắng (Kaolin) là nguyên liệu chính của ngành gốm sứ, theo tài liệu tỉnh Bình Dương có 83 mỏ đất sét với trử lượng khổng lồ lên đến 150 triệu tấn, gần rừng có nguồn than củi để nung sản phẩm, lại nằm bên dòng sông Đồng Nai rất thuận tiện trong việc chuyên chở hàng hóa giao thương đến các nơi.
Nói là gốm Bình Dương nhưng thật ra nó chỉ tập trung vào 3 khu vực làng nghề gốm sứ lớn là làng Tân Phước Khánh đầu tiên sau đó lan đến Lái Thiêu (Thành phố Thủ Dầu Một) và Bà Lụa (Thành phố Thuận An). Đây là nơi tập trung nhiều thợ giỏi tay nghề cao, kinh nghiệm lâu đời từ đó tạo nên sản phẩm gốm sứ nổi tiếng khắp cả nước. Các sản phẩm như bộ trà, tô chén dĩa, đồ dùng trong việc thờ phượng, lu hủ, v.v… Toàn tỉnh Bình Dương có gần 300 cơ sở làm đồ gốm, hàng năm có đến khoảng trên 130 triệu đơn vị được ra lò. Theo cách làm đồ gốm truyền thống củ mỗi mẻ gốm sau khi tạo hình xong đem đi nung, tiếp đến là người thợ phơi cho thật khô, tráng men, sau cùng là trang trí họa tiết hoa văn đẹp mắt bằng thủ công để thành phẩm. Trường Cao đẳng Mỹ nghệ Biên Hòa đào tạo nhiều thợ giỏi đóng góp không nhỏ cho ngành gốm sứ Biên Hòa và Bình Dương.
+ Gốm Minh Long:

Bình trà gốm Minh Long,
Để đáp ứng nhu cầu thị trường hiện nay cần đến sản phẩm chất lượng cao, nghề gốm sứ được sản xuất theo qui trình hiện đại trang bị hệ thống máy móc tối tân, kỷ thuật tinh vi hơn như tại các hảng lớn trang bị lò nung đạt đến nhiệt độ rất cao từ 1000 đến 1800 độ C và nung từ 3 đến 5 tháng tùy theo loại để cho ra sản phẩm tuyệt hảo, giử màu lâu bền không phai và độ rắng chắc thật tốt đủ sức để cạnh tranh không thua sản phẩm cùng loại của Trung Hoa, Nhật Bản hay Đài Loan.
Nổi tiếng nhất là hảng gốm Minh Long đạt tiêu chuẩn quốc tế, hoa văn màu sắc trang nhã, tân kỳ, thích hợp với không gian sang trọng đặc biệt là tạo ra nét mỹ thuật độc đáo dễ dàng phân biệt được với gốm sứ Tàu hay Nhật Bản. Thương hiệu gốm Minh Long đã đưa sản phẩm Việt ra thị trường quốc tế, các nước tại Châu Âu như Pháp, Đức, Hà Lan, ở Á Châu có Nhật Bản, và đang trên đà phát triển nới rộng thị trường.
Một sản phẩm gốm sứ mang thương hiệu Việt Nam góp mặt trên thị trường khó khăn nhất tại trời Âu còn là đưa nét đẹp văn hóa, mỹ thuật, tinh thần của người Việt loan tỏa ra thế giới.
Bên cạnh làng gốm Bình Dương, ở Thị xã Tân Uyên (Biên Hòa) có kỷ thuật làm ra mặt hàng gốm có hoa văn nhiều màu khá đẹp mắt tiêu biểu cho sản phẩm gốm vùng Biên Hòa.
3- NGHỀ TRANH SƠN MÀI.
Làng Sơn mài Bình Dương từ lâu nổi tiếng khắp cả nước, vào khoảng cuối thế kỷ 18 một số nghệ nhân từ Quảng Bình (Thuận Hóa) di cư vào Đồng Nai (Gia Định), khởi đầu từ phường Tương Bình Hiệp sau đó phát triển thêm thành làng nghề sơn mài Bình Dương qui tụ tại các phường Chánh Nghĩa, Phú Cường, Tân An, Định Hòa và Tương Bình Hiệp.
Trước năm 1975, nghề tranh sơn mài các nghệ nhân chế tác nhiều bức tranh nghệ thuật cao cấp bằng nhiều phương pháp như sơn lộng, sơn mài vẽ mỏng, sơn khoét trũng, cẩn trứng, cẩn xa cừ, v.v… có loại sơn mài biến tấu kết hợp với gổ hay tre là loại nghệ thuật độc đáo. Các đề tài thường được miêu tả như cảnh đẹp thiên nhiên, đời sống, con người, hoa lá rất phong phú.
Thị trường tranh sơn mài thời bấy giờ thuộc diện mỹ thuật và nghệ thuật cao cấp chủ yếu là khách hàng dùng để trang trí ở nơi trang trọng, làm quà tặng, các bức tranh khổ lớn chưng bày tại sảnh đường, phòng tiếp tân.
Sau này nhu cầu thị trường ngành sơn mài sản xuất thêm nhiều mặt hàng như bình hoa, lọ, tráp, v.v…
Theo sự giới thiệu của làng tranh sơn mài Bình Dương một tác phẩm phải trải qua quá trình rất công phu từ ý tưởng khởi đầu đến hoàn thành lần lượt qua 25 công đoạn, và thời gian từ 3 đến 6 tháng nhằm bảo đảm về chất lượng hoàn hảo. Người nghệ nhân đòi hỏi có kinh nghiệm dày dặn, kỷ thuật chế tác riêng. Ngoài ra chất liệu sơn cũng là yếu tố quan trọng đối với giá trị bức tranh, thường là dùng sơn ta đóng vai trò làm chất kết dính khi kết hợp với các chất liệu khác như vàng bạc, vỏ trai vỏ trứng, mang lại sự hài hòa tôn lên vẻ đẹp và màu sắc tự nhiên của những nguyên liệu như dầu tràm, dầu trẩu, nhựa dó, nhựa thông, v.v… Ngày nay, một số họa sĩ có xu hướng sử dụng các loại sơn hiện đại của Nhật Bản để thực hiện tranh sơn mài.
Tranh sơn mài là dòng tranh độc đáo, một bộ môn tranh ảnh luôn có nét nghệ thuật rất riêng, từ khâu tạo tác công phu đến vật liệu đặc biệt chọn lựa kỷ lưỡng và luôn là tranh độc bản sắt nét, nội dung ý nghĩa, sinh động, người nghệ nhân thổi hồn mình vào đó tạo nên tranh sơn mài Việt Nam được các nhà sưu tầm đánh giá khá cao nổi tiếng trên thế giới.

Tác phẩm “Cảnh ngôi chùa cổ miền Bắc” tranh Phạm Hậu - (Trong danh sách 13 tác phẩm hội họa đắt giá nhất của nghệ thuật Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại (chỉ xem xét những tác phẩm được đem đấu giá công khai).
Trong cuộc bán đấu giá tại Sotheby Hongkong, ngày 18/04/2021, tranh sơn mài của Họa sĩ Phạm Hậu (1903 – 1995), bức “Cảnh ngôi chùa cổ ở miền bắc Việt Nam” vẽ năm 1930, khổ 104,5 m x 183 cm với giá 8.040.000 đô la Hồng Kông (tương đương khoảng 24 tỷ đồng Việt Nam, hay 1 triệu Dolla Mỹ).
***
Đi lên thành phố Thủ Dầu Một thủ phủ của tỉnh Bình Dương, được gần 10 điểm tham quan: Nhà thờ Chánh Tòa Phú Cường, viếng được 3 ngôi chùa miếu (Miếu Bà Thiên Hậu (tính ngưỡng của người Hoa), chùa Hội Khánh (phái Thiền Lâm Tế), chùa Tây Tạng (thuộc hệ phái Lâm Tế Chúc Thánh và Mật Tông có xuất xứ từ Tây Tạng) cả 3 đều là di tích mấy trăm năm liên quan đến tiến trình phát triển vùng đất Bình Dương. Làng gốm Bình Dương, làng tranh Sơn Mài Thủ Dầu Một là hai ngành nghề làm nên thương hiệu nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn loan tỏa nhiều nơi trên thế giới.
Các điểm khác như: Chùa Châu Thới cổ xưa (thị xã Dĩ An), vườn trái cây Lái Thiêu, làng tre Phú An (nơi bảo tồn hơn 300 giống tre, nứa của 17 loài bao gồm khoảng 90% cây tre nứa có mặt tại Việt Nam). Còn các KDL Đại Nam, KDL Dìn Ký, KDL Thủy Châu, … là điểm du lịch sinh thái bình thường và chúng tôi cũng không đủ thời gian để đi. Sorry!
Đến xế chiều, cô con gái Mỹ Hạnh thấy ba của nó có vẻ uể oải nên đề nghị:
- Ba, con thấy ba hơi mệt chắc đã khát nước nữa, mình ghé AEON MALL kiếm chút gì uống đi. Cái siêu thị này của người Nhật nên có nhiều thức giải khát ngon lắm, con đãi ba.
Rồi cô mỉm cười luyến thoắng nheo mắt nói tiếp:
- Đền lại hồi hôm qua con mời ba lên Thủ Dầu Một ăn trái cây. (Hi hi).
- Kỳ này làm ba mừng hụt rồi! Nghe nói trên này cây trái nhiều ba định tìm kiếm trái gùi để ăn thử xem nó ra sao.
- Dạ, trái gùi là loại trái cây rừng không có giá trị kinh tế nên nhà vườn không ai trồng, ít khi gặp người ta bán lắm.
- Con biết bài ca vọng cổ “Trái gùi Bến Cát” không? của soạn giả Kiên Giang.
- Dạ, con có nghe nhắc đến nhưng không rỏ, nó sao á ba?
Bài “Trái Gùi Bến Cát” được ông Kiên Giang viết từ một câu chuyện có thật của người phụ nữ ở Lái Thiêu, hàng ngày đi xe lửa lên buôn bán ở Lộc Ninh (Bình Phước) kiếm tiền nuôi con nhỏ và người chồng đang bị đau ốm, đến tối mịt mới về cũng bằng xe lửa. Mỗi ngày cô thường mua chùm trái gùi mang về cho đứa con nhỏ thứ trái cây mà con cô ưa thích: Trái gùi ở Bến Cát, Bình Dương. Một hôm cô vừa mua xong xâu gùi chín cho con, khi đón xe lửa trở về cô bị trượt chân té xuống đường ray và bị xe lửa cán qua mà trên tay vẫn còn nắm chặt xâu gùi!
Bài ca vọng cổ mở đầu bằng một lối vè rất dân dã Nam Bộ :
Nghe vẻ nghe ve, ai về Bến Cát
Nghe con trẻ hát: Sài Gòn, Lộc Ninh;
Tang tính, tang tình, trái gùi Bến Cát …
Tiếp theo đó là bốn câu thơ cũng rất dân dã:
Mẹ đi chợ chớ ở lâu,
Bận về mẹ nhớ mua xâu trái gùi.
Con chờ xe lửa kéo còi,
Ra ga đón mẹ lấy gùi ăn chơi …
Câu chuyện “Trái gùi Bến Cát” thật thương tâm. Bài hát “Trái gùi Bến Cát” đã lấy rất nhiều nước mắt của khán, thính giả thuở đó!
Ngày nay những ai đến viếng Bình Dương chắc hẳn có nhiều điều để khám phá và làm sao không khỏi bùi ngùi xót thương khi nhớ đến câu chuyện và bài hát “Trái gùi Bến Cát”?
Lê Hữu Uy
(Kỷ niệm chuyến đi Bình Dương – Hè 2024)













